Monday, March 27, 2017

Đại Tá Phạm Văn Phô Khóa 8 VBQG (1933-2017)

(1933-2017)
Số Quân: 53/300-229
Sinh ngày 2 tháng 4 năm 1933 tại Ninh Bình
Tốt nghiệp khóa 8 Võ Bị Đà Lạt
- Trung Đội Trưởng Tiểu Đoàn Khinh Quân 708
- Trung Đội Trưởng Tiểu Đoàn 14 Việt Nam
- Trung Đội Trưởng Đại Đội Súng Nặng (Arme Loudre)
- Đại Đội Phó Đại Đội Hành Chánh và Công Vụ Trung Đoàn 5 Sư Đoàn 2.
- Trưởng Ban Tư Trung Đoàn 5 Bộ Binh.
- Đại Đội Trưởng kiêm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 5 Bộ Binh.
- Theo học Trường Tình Báo Hoa Kỳ ở Okinawa Japan.
- Trưởng Ban 2  Trung Đoàn 5 Bộ Binh kiêm Trưởng Phòng 2 Tiểu Khu Quảng Ngãi.
- Trưởng Ty Cảnh Sát Tỉnh Quảng Nam.
- Ban Tình Báo Phòng 2 Quân Đoàn 1.
- Trưởng Phòng 2 Tiểu Khu Quảng Tín.
- Trưởng Phòng 2 Sư Đoàn 2 BB kiêm Trưởng Phòng 2 kiêm Trưởng Phòng 2 Khu 12 Chiến Thuật.
- Trưởng Phòng 2 Quân Đoàn 1
- Phụ Tá Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu.
- Mang cấp bậc Đại Tá từ năm 1971.

Huy Chương:
- Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.
- Đệ Ngủ Đảng Bảo Quốc Huân Chương.
- 2 Anh Dũng Bội Tinh với Ngành Dương Liễu (Tuyên Dương trước Quân Đội).
- 7 Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Vàng (Tuyên Dương trước Quân Đoàn).
- 15 Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sa Bạc (Tuyên Dương trước Sư Đoàn).
- 4 Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Đồng (Tuyên Dương trước Lữ Đoàn).
- 2 Chiến Thương Bội Tinh.
- 1 Danh Dự Bội Tinh.
- 1 Chương Mỹ Bội Tinh.
- Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương của Nam Hàn.
- Bronze Star Medal của Hoa Kỳ  (1971)
- Army Commendation Medal (1969)

Sau 30-4-1975:
- Bị Cộng Sản cầm tù 17 năm tại Việt Bắc và ra tù vào tháng 4 năm 1992.
- Định cư tại California Hoa Kỳ vào ngày 19.7.1992 
- Tháng 5 năm 1995 di chuyển về thành phố Houston, Texas. 
- Mất ngày 27 tháng 3 năm 2017 tại Houston Texas

   



Tuesday, February 7, 2017

Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Điềm (1930-1975) Hy Sinh Vì Công Vụ

(1930- 1975)
Số Quân 50/200.102
Sinh tháng 8 năm 1930 tại Thừa Thiên.

1953: Theo học khóa 4 Cương Quyết Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.
1954: Tốt nghiệp cấp bậc Thiếu Úy.
1956: Ngày 1 tháng 6 thăng cấp Trung Úy
1963: tháng 8 thăng cấp Đại Úy. Trưởng Phòng 2 Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
1968: Tháng 6, Thiếu Tá Trung Đoàn Phó Trung Đoàn 1 Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
1969: Ngày 1-1 thăng Trung Tá Nhiệm Chức.
1970: Tháng 10 thăng Đại Tá Nhiệm Chức.
1971: Tháng 12 Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
1972: Ngày 19 tháng 9 Xử Lý Thường Vụ Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
1973: Ngày 1-11, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
1974: Vinh thăng Chuẫn Tướng Nhiệm Chức.
1975: 28 tháng 3 Kiêm Quân Trấn Trưởng Quân Trấn Đà Nẵng.
29 tháng 3: Trong chuyến trực thăng UH1 H bay từ Non Nước Đà Nẵng lúc hoàng hôn di tản về Quy Nhơn Bình Định vì chở nặng bay trong đêm sương mù nên trực thăng bay ven biễn. Bay đến địa phận huyện Bình Sơn Quảng Ngãi, trực thăng chao đảo cánh quạt chạm nước gây tại nạn. Trên trực thăng chở hơn 10 người, gồm Chuẩn Tướng Điềm cùng một số Sỉ Quan Tham Mưu Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Trong số có 1 Thượng Sĩ Y Tá của Phi Đoàn cùng vợ và 3 con nhỏ đều mất tích. Một người duy nhất sống sót là Trung Tá Lê Ngọc Bình trưởng phi cơ và cũng là Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 257 (tản thương). Khi mất tích Chuẩn Tướng Điềm 45 tuổi.
2011: Ngày 2 tháng 10 Gia đình Tướng Điềm đã tìm ra hài cốt tại địa điểm sát bờ biển Lá Ngải, thôn An Hải, xả Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Khi khai quật ngôi mộ hài cốt Tướng Điềm còn 1 thẻ bài và một lá bùa trong túi áo). Ngoài Tướng Điềm còn có các thi hài Đại Tá Võ Toàn ( còn thẻ bài và 1 nhẩn cưới). Một Thiếu Úy phi công với cấp bậc trên áo bay. Một thi hài phu nữ và một em bé.

        Tướng Điềm, Thế Trận Sư Đoàn 1bb Tuyến Tây Nam Huế
Tác giả : Vương Hồng Anh
* Tướng Nguyễn Văn Điềm và Sư đoàn 1 BB
Như VB đã trình bày trong loạt bài viết về chiến trường Trị-Thiên, từ mùa hè 1972 đến tháng 3/1975, Sư đoàn 1 Bộ binh dưới quyền 3 vị Tư lệnh kế tiếp nhau: thiếu tướng Phạm Văn Phú, chuẩn tướng Lê Văn Thân, chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm, đã giữ vững phòng tuyến Tây Nam Huế, vô hiệu hóa hoạt động của 324B CSBV và 3 Trung đoàn của B5 tăng cường. Riêng với chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm, vị Tư lệnh cuối cùng của Sư đoàn 1 Bộ binh (BB), đã sát cánh cùng quân sĩ của sư đoàn này từ khi cuộc chiến Hè 1972 bùng nổ đến những ngày cuối của tháng 3 qua các chức vụ: Tư lệnh phó rồi Tư lệnh Sư đoàn 1 BB. Chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm, xuất thân khóa 4 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức (cùng khóa với trung tướng Ngô Quang Trưởng), đã phục vụ tại Sư đoàn 1 BB từ khi còn là một sĩ quan cấp úy, và đã trải qua các chức vụ chỉ huy từ cấp đại đội, tiểu đoàn, Trung đoàn rồi sư đoàn. Ông được thăng trung tá vào đầu năm 1969 khi đang giữ chức Trung đoàn phó Trung đoàn 1 BB, đến giữa năm 1969, ông được cử giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn nói trên và thăng đại tá vào tháng 10/1970. Từ đầu năm 1972 đến tháng 10/1973, ông là Tư lệnh phó Sư đoàn 1 BB, trong thời gian này, ông đã từng đảm nhiệm chức vụ Xử lý thường vụ Tư lệnh Sư đoàn 1BB trong tháng 9 và tháng 10/1972 thay tướng Phạm Văn Phú nghỉ dưỡng bệnh. Tháng 11/1973, ông trở thành Tư lệnh Sư đoàn 1 BB và được thăng chuẩn tướng vào đầu tháng 4/1974. Cuối tháng 3/1975, ông bị tử nạn trực thăng khi đang điều động quân sĩ Sư đoàn 1 BB triệt thoái khỏi Quân khu 1. Sau đây là bài tổng lược về thế trận của tướng Điềm và Sư đoàn 1 BB trong mùa Hè 1972. Phần này được biên soạn dựa theo chiến sử của Sư đoàn 1 BB, bài viết của trung tướng Ngô Quang Trưởng dành cho Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ và tài liệu riêng của VB.
* Tư lệnh phó Nguyễn Văn Điềm, thế trận Sư đoàn 1 BB tại Tây Nam Huế
Vào tháng 4/1972, trong khi lực lượng bộ chiến của Sư đoàn 3 Bộ binh, hai lữ đoàn Thủy quân Lục chiến, hai liên đoàn Biệt động quân, lữ đoàn 1 Thiết Kỵ, các đơn vị tăng phái đang nỗ lực ngăn chận 3 sư đoàn CSBV ở mặt trận Quảng Trị, tại chiến trường phía Tây và Tây Nam Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên, 3 Trung đoàn 1, 3 và 54 BB đã liên tục giao tranh với ba Trung đoàn của sư đoàn 324 CSBV, được tăng cường 1 Trung đoàn của sư đoàn 304 CSBV. Tư lệnh Sư đoàn 1 BB lúc bấy giờ là thiếu tướng Phạm Văn Phú đã cùng với Tư lệnh phó Nguyễn Văn Điềm thay nhau đến các mặt trận để trực tiếp điều động quân sĩ. Khi trận chiến xảy ra, cụm tuyến phòng thủ của 3 Trung đoàn thuộc Sư đoàn 1 BB chạy dài từ căn cứ Evans (Hòa Mỹ) ở phía Bắc Thừa Thiên, nơi Trung đoàn 1 BB đặt bộ chỉ huy hành quân, chạy về hướng Tây Nam đến căn cứ hỏa lực Rakkasan, rồi vòng về hướng Đông Nam đi qua căn cứ hỏa lực Bastogne (Phú Xuân) và căn cứ Chekmate (cao điểm 342), bắt tay với căn cứ hỏa lực Birmingham (Bình Điền) nơi đặt bộ chỉ huy hành quân của Trung đoàn 54 Bộ binh, di chuyển từ căn cứ La Sơn lên. Cùng lúc đó, Trung đoàn 3 Bộ binh, bộ chỉ huy đặt tại căn cứ An Đô, là lực lượng trừ bị được phối trí phòng thủ theo chiều sâu của cụm phòng tuyến.
* Tư lệnh phó Nguyễn Văn Điềm và cuộc hành quân giải tỏa áp lực CSBV vào mùa Hè 1972
Trong tuần lễ đầu của tháng 4/1972, Cộng quân áp lực nặng căn cứ Bastogne (do tiểu đoàn 2/54 phòng ngự) và căn cứ Checkmate do tiểu đoàn 1/54 án ngữ. Từ tuần lễ thứ hai, việc tiếp tế bằng đường bộ cho hai căn cứ này đã bị địch chốt chận, chỉ còn nhờ vào các phi đội trực thăng, tiếp tế theo chu kỳ 5 ngày/1 lần. Ngày 11 tháng 4/1972, để giải tỏa áp lực của CQ, bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 BB đã sử dụng Trung đoàn 1 BB làm lực lượng xung kích để mở cuộc phản công tiếp ứng Trung đoàn 54 BB. Do phải thường xuyên bay chỉ huy điều động cả 3 Trung đoàn trên toàn mặt trận, thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Sư đoàn 1 BB, đã phân nhiệm cho Tư lệnh phó Nguyễn Văn Điềm trực tiếp đôn đốc cánh quân trung đoàn 1 BB mà trung đoàn trưởng lúc bấy giờ là trung tá Võ Toàn. Theo kế hoạch, Trung đoàn 1 BB nỗ lực giải tỏa áp lực của Cộng quân trên tỉnh lộ về hướng Tây. Trong khi khai triển lực lượng, Trung đoàn 1 BB đã đụng độ dữ dội với các đơn vị của Trung đoàn 24 CSBV. Trung đoàn CSBV này đã thiết lập cụm kháng cự liên hoàn với các chốt cố thủ kiên cố để chịu được các trận Không tập của B 52 và pháo tập của Pháo binh Sư đoàn 1 BB. Được sự yểm trợ mạnh mẽ của Không quân và Pháo binh, lực lượng Trung đoàn 1 BB cố tung các đợt tấn công để đánh bật địch, nhưng đã gặp sự kháng cự mạnh của Cộng quân. Từ vận động chiến, các đơn vị của Trung đoàn 1 BB chuyển đổi thế đánh. Từng trung đội cố tiến sát về các cụm chốt của địch, sử dụng cận chiến và lựu đạn để triệt hạ các ổ kháng cự. Tuy nhiên, những nỗ lực này đã bị hạn chế về kết quả do sự bố phòng dày dặc của địch và hỏa lực chống trả rất mạnh của đối phương. Trước cuộc diện của trận địa, bộ chỉ Trung đoàn 1 BB cho lệnh các đơn vị tiến chiếm một số cao điểm để bố trí quân, dàn trận, để từ đó khởi động các cuộc tấn công kế tiếp sau các đợt không yểm. Cùng với sự khống chế trục lộ 547, Cộng quân đã mở trận địa pháo hỏa công các vị trí bãi đáp cho trực thăng, đồng thời pháo dữ dội vào căn cứ Phú Xuân và cao điểm 342 khiến số thương vong của quân trú phòng gia tăng mỗi ngày, hoạt động tản thương đã bị trở ngại lớn, các chuyến tiếp tế bằng trực thăng và bằng vận tải cơ thả dù cũng ít khi thành công do hỏa lực phòng không của địch quanh các căn cứ. Hai tuần lễ cuối cùng của tháng 4/1972, tất cả 5 tiểu đoàn của Sư đoàn 1 BB phòng thủ trên cụm tuyến phía Tây dù đã bị tổn thất khá cao, nhưng các đơn vị này vẫn giữ vững tuyến phòng ngự. Hoạt động không trợ của Không quân Việt Mỹ đã được gia tăng để bảo vệ các tiền cứ khỏi bị Cộng quân tràn ngập bởi các cuộc tấn công cường tập.
* Cuộc tấn công tái chiếm các tiền cứ trọng điểm
Trước diễn biến của cuộc diện chiến trường, thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Sư đoàn 1 BB đã cho tái phối trí lực lượng như sau: bộ Chỉ huy Hành quân của Trung đoàn 1 BB được lệnh di chuyển đến căn cứ Cát Hữu ở phía Đông Nam Hòa, nằm gần trục lộ từ quận này về Huế; bộ Chỉ huy chính Trung đoàn 54 BB được rời căn cứ Bình Điền về hậu cứ Trung đoàn để chuẩn bị tái chỉnh trang hai tiểu đoàn 1/54 và 2/54 bị tổn thất nặng trên đường triệt thoái; bộ Chỉ huy nhẹ của Trung đoàn này do Trung đoàn phó chỉ huy tiếp tục đóng tại Bình Điền để điều động hai tiểu đoàn 3/54 và 4/54, hợp lực cùng với 4 tiểu đoàn của Trung đoàn 1 BB giữ vững tuyến Tây Nam Huế. Chỉ huy tổng quát cụm tuyến Tây Nam Huế là tư lệnh phó Nguyễn Văn Điềm.
Ngay sau khi di chuyển toàn bộ Trung đoàn vào trận địa mới, bộ chỉ huy Trung đoàn 1 BB được lệnh chuẩn bị cuộc phản công tái chiếm căn cứ Bastogne và Checkmate, đồng thời xây dựng các cụm điểm án ngữ ngăn chận các đơn vị của sư đoàn 324 B CSBV đang cố xâm nhập vào quận Nam Hòa để tiến về đồng bằng Thừa Thiên.
Để có hỏa lực cơ hữu yểm trợ trực tiếp cho các đơn vị, Trung đoàn 1 BB đã cho thành lập các pháo đội súng cối 81 ly. Theo đó, các súng cối của các tiểu đoàn thường ít khi sử dụng đã được tập trung lại để thành lập các pháo đội do Đại đội Chỉ huy Công vụ Trung đoàn hoặc ố quân nhân hậu cứ phụ trách. Mỗi pháo đội có khoảng từ 8 đến 12 khẩu súng cối 81 ly được phối trí để có thể tác xạ tập trung cùng một lúc. Theo đề nghị của bộ chỉ huy Trung đoàn và của Tư lệnh phó Nguyễn Văn Điềm, bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh đã ưu tiên cung cấp cho các pháo đội súng cối này mỗi ngày từ 2 đến 5 ngàn quả đạn. Các khẩu đội súng cối được đưa đến sát trận địa, tác xạ nhanh và chính xác, đã là nguồn hỏa lực mạnh, yểm trợ hữu hiệu cho các đơn vị của Trung đoàn trong các trận giao tranh với địch quân. Sau khi đã tổ chức cụm tuyến phòng thủ bảo vệ vững vàng vòng đai Huế ở hướng Tây Nam, giữa tháng 5/1972, dưới sự đôn đốc của tư lệnh phó Nguyễn Văn Điềm từ trên trực thăng chỉ huy, toàn bộ Trung đoàn 1 Bộ binh và thành phần tăng phái đã khởi động cuộc phản công tái chiếm các căn cứ ở phía Tây. Ngày 15/5/1975, một biệt đội cảm tử đã hành quân trực thăng vận nhảy xuống Bastogne, tái chiếm căn cứ này. Một tuần sau, bộ chỉ huy Trung đoàn 1 BB điều động 2 tiểu đoàn từ hai hướng tấn công tái chiếm căn cứ Checkmate. Cuộc tấn công được khai triển với ba yếu tố: bất ngờ, nhanh, hỏa lực tập trung. Chiều ngày 22/5/1972, một đại đội của Trung đoàn 1 BB đã tiến chiếm khu trung tâm của cao điểm 342. Các đại đội còn lại đã bung rộng để truy kích địch. Dù đã bị đánh bật ra khỏi hai căn cứ trọng điểm, nhưng áp lực của Cộng quân vẫn còn nặng. Để có thể chiến đấu lâu dài trên một địa thế bất lợi cho thế công, Trung đoàn 1 BB đã áp dụng ngay chiến thuật chốt của Cộng quân để chận địch. Mỗi chốt có khoảng 10 chiến binh, cứ ba chốt tạo thành một kiềng (cụm chốt), hỗ tương tác chiến, yểm trợ lẫn nhau. Về tiếp vận, các chốt được tiếp tế bằng đường bộ theo chu kỳ năm ngày một lần. Để đề phòng trường hợp bị bao vây, hoặc việc tiếp tế bị chậm trễ do thời tiết, các chốt đều có lương thực dự trữ đủ dùng trong một tuần. Chính với chiến thuật kiềng chốt, các tiểu đoàn của Trung đoàn 1 BB đã bảo vệ vững vàng vòng đai của các căn cứ trọng điểm tại phòng tuyến Tây Nam Huế.


Suốt nhiều năm tìm kiếm, gia đình của cố Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm và cố Ðại Tá Võ Toàn đã tìm thấy hài cốt của họ với các tấm thẻ bài đầy đủ họ tên và số quân.
Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm là tư lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh. Ðại Tá Võ Toàn là trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 1 Sư Ðoàn 1 Bộ Binh. Cả hai sĩ quan này thiệt mạng trong một chuyến bay vào đêm 28 tháng 3, 1975 từ Ðà Nẵng dự trù về Qui Nhơn chuẩn bị phòng tuyến mới để cầm cự khi Ðà Nẵng thất thủ và Quảng Nam không còn an toàn.
Theo nguồn tin của gia đình Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm và Ðại Tá Võ Toàn, tìm ra địa điểm hài cốt của họ mới cách đây khoảng 3 tuần lễ tại một địa điểm sát bờ biển thuộc làng Lá Ngái, thôn An Hải, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Ðược sự giúp đỡ của người dân địa phương đã chôn cất những tử thi này, gia đình đã dễ dàng kiếm ra địa điểm. Trước đó, gia đình Chuẩn Tướng Ðiềm đã tổ chức rất nhiều lần tìm kiếm nhưng không thành công.
Khi khai quật lên, ngoài hài cốt của Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm (còn thẻ bài và một lá bùa trong túi áo- được gia đình xác nhận), Ðại Tá Võ Toàn (còn thẻ bài và một nhẫn cưới), còn có hài cốt một thiếu úy (có cấp bậc trên cổ áo), một phi công (mặc đồ bay), một phụ nữ và một em bé.
Ðiều này trùng hợp với ký ức của cựu Trung Tá Lê Ngọc Bình, người lái chiếc máy bay bị rớt, cho biết trong số người trên máy bay ngoài hai sĩ quan Sư Ðoàn 1 còn có nhiều người quá gian tránh pháo kích.
Trong cuộc nói chuyện với báo Người Việt trưa ngày 7 tháng 10, ông Lê Ngọc Bình nói rằng máy bay do ông lái bay trong sương mù dày đặc, chở nặng (khoảng 16 người gồm cả quân và một vài người là thân nhân không quân chạy nạn) không bay cao được và bay dọc theo bờ biển.
Tới một khu vực thuộc tỉnh Quảng Ngãi thì bị bắn và máy bay rơi xuống biển.
Ông Bình, nguyên phi đoàn trưởng phi đoàn trực thăng 275 của Sư Ðoàn 1 Không Quân VNCH, kể rằng buổi tối 28 tháng 3 năm 1975, phi trường Ðà Nẵng bị pháo kích dữ dội. Ông được lệnh dời phi đoàn sang một phi trường nhỏ ở Non Nước lâu nay không sử dụng, để tránh pháo kích và “đợi êm quay lại chứ không định đi đâu”. Ðược một ít lâu thì có mấy xe díp chạy tới, ngừng lại. Ông thấy có Chuẩn Tướng Ðiềm, Ðại Tá Toàn và một số sĩ quan cao cấp khác. Dịp này, Tướng Ðiềm liên lạc với tỉnh trưởng Bình Ðịnh thì được cho hay nơi đây vẫn còn an toàn nên ông muốn được vào đó để lập tuyến phòng thủ mới. Ông Bình trình bày rằng trời mưa và sương mù nặng nên bay rất khó khăn, nguy hiểm. Trong khi đang thảo luận thì “dân trong làng gần đó túa ra nói xe tăng Cộng Sản đang đi về hướng này”.
Vì vậy mọi người cùng lên máy bay và quyết định bay dọc biển về hướng Qui Nhơn ở phía Nam.
“Trên máy bay có một y tá, một phụ nữ với 4 đứa con nhỏ là những người quá giang tránh pháo kích ở Ðà Nẵng, tất cả ngồi đầy máy bay tới 16 người. Máy bay bay thấp vì nặng”. Ông Bình kể.
Máy bay bay ngang qua Chu Lai bị bắn, may không bể bình xăng, nên không mất cao độ. “Nhưng khi chưa tới Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, thì bị bắn lên. Nghe tiếng súng nhỏ bắn rồi máy bay không còn điều khiển được và rớt xuống nước”.
Theo lời ông Bình kể “Ðụng nước, máy bay trực thăng lật ngửa. Tôi cố sức ra được, trồi lên mặt nước, mang giày nặng không bơi được nên lặn xuống cởi giày. Trồi lên lại thì thấy ông Ðiềm cũng nổi lên, còn mang áp giáp. Tôi la lớn kêu ông cởi áo giáp. Cũng thấy ông Toàn nổi lên.”
Lúc này, ông nói đã uống rất nhiều nước biển, rất mệt lại đêm tối không nhìn thấy gì, “sóng đánh rầm rầm, mạnh ai nấy đi”. Ông ráng bơi được vào bờ, rất mệt, bám được mô đá nhưng lại bị sóng đánh dạt ra ba lần mới bám được một chỗ, tay sứt móng máu chảy rất nhiều. Ông không thấy ai bơi vào như ông, lúc này ông đoán khoảng 11 tới 12 giờ đêm.
Ông Bình kể tiếp là ông đi dọc biển một hồi thì thấy một máy bay trực thăng trước mặt. Ông chạy tới, may nhờ một người trong nhóm người này là trung úy thuộc cấp cũng thuộc phi đoàn của ông nhìn ra ông nên đã không bị bắn.
Chiếc máy bay này đã đáp xuống vì sương mù dày đặc không bay nổi.
Khi họ đang bàn tính và chờ bớt sương mù thì bị một nhóm quân cộng sản tới tấn công. Nhóm của ông đã bắn trả, rút lên máy bay và bay đi kịp. Cố gắng lên được cao độ 2,000 feet, trời bớt sương mù và lúc này cũng đã khoảng 7 giờ sáng ngày hôm sau. Máy bay ra khỏi mây và bay về được tới phi trường Phù Cát.
“Tôi nghĩ là ông Chuẩn Tướng Ðiềm và những người kia đều đã chết đuối. Họ đã uống nhiều nước biển” nên mất sức, không thể chống chọi với sóng biển.
“Hai đêm qua tôi đã không ngủ được khi nghĩ đến chuyến bay hôm đó”. Ông Bình nói.
Quận Cam ngày 7 tháng 10 năm 2011
Huy Phương & Nam Phương
Người Việt






Quân-sử sư-đoàn 1 Bộ-Binh .
(Phạm Huấn; Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc hiệu - Đính)
Sư đoàn 1 Bộ binh là một đơn vị thiện chiến của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, được thành lập năm 1959 và gác súng năm 1975. Đây là một đơn vị quân đội lớn, từng tham dự nhiều trận quan trọng trong Chiến tranh Việt Nam, lập được nhiều thành tích, và là sư đoàn bộ binh đầu tiên mà tất cả quân nhân được mang dây biểu chương ba màu của Bảo Quốc Huân Chương. Đặc biệt, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 của sư đoàn là đơn vị duy nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa nhận Presdential Unit Citation của Hoa Kỳ vì thành tích chiến đấu dũng cảm.
Năm 1959, Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) tái tổ chức các sư đoàn dã chiến 1, 2, 3, 4 và 6 sư đoàn khinh chiến 11, 12, 13, 14, 15, 16 thuộc quân đội Quốc gia Việt Nam thành 7 sư đoàn bộ binh, gồm Sư đoàn 1, Sư đoàn 2, Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, Sư đoàn 21, Sư đoàn 22 và Sư đoàn 23 Bộ binh. Mỗi sư đoàn với quân số 10.500 quân nhân.
Sư đoàn 1 Bộ binh đặt bộ tư lệnh tại Huế, thuộc Quân đoàn I, Quân khu I, và gồm có các đơn vị trực thuộc: Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, ba trung đoàn bộ binh tác chiến (Trung đoàn 1, 3, 51 và 54), Đại đội Hắc Báo Trinh sát/Viễn thám Sư đoàn 1 Bộ binh, Thiết đoàn 7/Lữ đoàn 1 Kỵ binh, ba tiểu đoàn pháo binh 105 mm, một tiểu đoàn pháo binh 155 mm và một số đơn vị yểm trợ: Đại đội 101 Quân cảnh, Tiểu đoàn Quân Y Sư đoàn 1 Bộ binh, Tiểu đoàn 1 Công binh, và các đơn vị truyền tin, vận tải, quân cụ, quân nhu.
Những ngày tháng cuối ...
Tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 1 Bộ binh, Liên đoàn 15 Biệt động quân, các Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến, cũng như Chi đội Thiết vận xa thuộc Lữ đoàn 1 Thiết Kỵ tăng phái chịu trách nhiệm bảo vệ hướng Tây và Nam tỉnh Thừa Thiên.
Tối ngày 23/03/1975, Chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm tư lịnh Sư đoàn 1 Bộ Binh họp BTL và và ban hành lịnh rút quân của Quân Đoàn I. Và lịnh rút quân được ban hành rất ngắn gọn. Theo kế hoạch, Sư đoàn 1 Bộ binh cùng các đơn vị phụ thuộc sẽ tập hợp tại cửa Tư Hiền, vượt đầm Cầu Hai, qua đèo Hải Vân rồi theo Quốc lộ 1 về Đà Nẵng. Binh sĩ được lịnh bỏ lại những đồ vật kềnh càng, mang theo 7 ngày lương thực và đạn dược đầy đủ để chiến đấu dọc đường.
Sau khi Chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm, Tư lệnh SĐ 1 BB, tại Bộ Tư lệnh Sư đoàn trong căn cứ Giạ Lê phổ biến lệnh rút quân khỏi Huế, thì một giờ sau đó, cảnh tượng hỗn loạn đã diễn ra tại Bộ Chỉ huy của các đơn vị trực thuộc.
Sáng ngày 24/03/1975, Chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm bay chỉ huy cuộc rút quân bằng trực thăng nhưng bị trúng đạn VC, một trực thăng khác của Sư đoàn Thủy quân Lục Chiến đã đáp xuống tiếp cứu ông và đưa về Đà Nẳng. Ông được ghi nhận mất tích kể từ ngày 29/03/1975.
Vị tư lịnh bị mất tích, hệ thống liên lạc giữa Quân đoàn và Sư đoàn hoàn toàn mất liên lạc và đưa tới sự thất bại cuộc rút quân của Sư đoàn 1 Bộ Binh.
Ngày 24 tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 324B và Sư đoàn 325 BV, cùng Trung đoàn Trị Thiên biệt lập, đồng loạt tấn công dọc theo tuyến phòng thủ sông Bồ kéo dài đến Phú Lộc. Tại các trận tuyến Mõ Tàu, núi Bông và các cao điểm nơi có mặt Trung đoàn 1, 51, 54 thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, giao tranh xảy ra quyết liệt và gây thiệt hại nặng cho các đơn vị tấn công.
Con đường duy nhất dẫn về Phú Lộc, An Nông, Phú Bài... đã bị VC phục kích và nã súng xối xả vào đoàn quân triệt thoái và gây thiệt hại nặng nề cho quân đội VNCH. Và hai Trung đoàn của Sư đoàn 1 Bộ Binh đã tan hàng vào các ngày 24 và 25 tháng 3 năm 1975.
Các tiểu đoàn khác của các Trung đoàn 1, 3, 51 và 54 BB và các đơn vị thống thuộc như Thiết giáp, Pháo Binh, cũng lâm vào tình cảnh tương tự. Khi về đến cửa Tư Hiền, Duyên đoàn 13 Hải quân chịu trách nhiệm đưa quân qua sông bị khó khăn và không làm tròn trọng trách đó. Binh sĩ Sư đoàn 1 Bộ Binh một số được tàu Hải Quân chở, một số khác mở đường máu ven theo Quốc lộ 1 hoặc ven theo biển, phần lớn đã hy sinh trên đường rút quân. Và chỉ có khoảng 4.000 quân nhân về được đến Đà Nẵng.
Các vị tư lệnh sư đoàn:
Đại tá Lê Văn Nghiêm 15/01/1955 - 15/12/1955
Đại tá Nguyễn Khánh 15/12/1955 - 14/08/1957
Đại tá Tôn Thất Đính 14/08/1957 - 09/08/1958
Đại tá Nguyễn Văn Chuân 09/08/1958 - 30/07/1959
Đại tá Tôn Thất Xứng 30/07/1959 - 02/12/1960
Đại tá Nguyễn Đức Thắng 02/12/1960 - 01/10/1961
Đại tá Nguyễn Văn Thiệu 01/10/1961 - 08.12/1962
Đại tá Đỗ Cao Trí 08/12/1962 - 22/11/1963
Đại tá Nguyễn Văn Hiếu 22/11/1963 - 12/12/1963
Đại tá Trần Thanh Phong 12/12/1963 - 19/02/1964
Đại tá Nguyễn Chánh Thi 19/02/1964 - 21/10/1964
Đại tá Nguyễn Văn Chuân 21/10/1964 - 14/03/1966
Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận 14/03/1966 - 18/16/1966
Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng 18/16/1966 - 23/08/1970
Thiếu tướng Phạm Văn Phú 23/08/1970 - 12/11/1972
Chuẩn tướng Lê Văn Thân 12/11/1972 - 31/10/1973
Chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm 31/10/1973 - 29/03/1975
Các trận đánh tiêu biểu
Chiến dịch Pegasus (1968)
Trận Mậu Thân (1968)
Trận Lam Sơn 719 (1971)
Trận Mùa Hè Đỏ Lửa - phòng tuyến Tây Nam Huế (1972) .
( ST )


Sống chết bên nhau

Trở về nhà sau 36 năm

Huy Phương
“Hài cốt người phi công tìm thấy là Trung Úy Nguyễn Văn Tạng và người phụ nữ cùng em bé là vợ con của y tá phi hành Nguyễn Chược (thuộc Phi Ðoàn 257 Trực Thăng)?”
Theo lời kể của ông Nguyễn Minh Ðệ, 55 tuổi, trưởng nam của Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm, những năm trước đây, với nguồn tin máy bay trực thăng do Trung Tá Lê Ngọc Bình lái bị bắn rớt tại Sa Huỳnh vào ngày 28 tháng 3, 1975 sau khi Ðà Nẵng bị thất thủ, gia đình Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm đã đến vùng này để tìm kiếm nhưng không có kết quả. Thật ra địa điểm máy bay rơi là Sa Kỳ thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Năm ngoái, có một thân nhân ở Ðà Lạt cho biết ở Sa Kỳ năm 1975 người ta có chôn một ông tướng VNCH tên Ðiềm và chỗ này dân chúng tin tưởng rất linh thiêng, hay đến cầu xin và nhang khói, tuy vậy gia đình đã mất lòng tin vì đã cất công tìm kiếm nhiều lần.
Nhân có người em của Chuẩn Tướng Ðiềm ở Mỹ mới về thăm nhà và ông này đã thúc giục gia đình nên đi Sa Kỳ một lần để rõ thực hư. Khi đến nơi hỏi thì dân làng ai cũng biết ngôi mộ này, nằm trong một xóm nhỏ có tên là Lá Ngái.
Theo lời kể của dân làng thì đầu tháng 4 năm đó có rất nhiều xác người tấp vào bờ và dân làng đã chôn họ rải rác ven bờ biển, qua các trận bão lụt, bây giờ đã không còn dấu tích gì. Rất may mắn, sáu thi thể trong đó có Chuẩn Tướng Ðiềm, Ðại Tá Võ Toàn nằm gần một hố bom, cao hơn mặt biển được dân làng mai táng vào đó, nên không hề bị ảnh hưởng bởi sóng gió. Vì sự linh thiêng của người chết mà dân trong vùng tin tưởng, nên khi gia đình đến nơi, người trong thôn đã chỉ nơi chính xác của ngôi mộ. 
Khi công nhân khai quật nấm mộ đã bắt gặp hai đôi giầy trận đã mục nát. Một hài cốt nhỏ nhắn được gia đình nghi là của Chuẩn Tướng Ðiềm, còn thẻ bài mang rõ họ tên, và trong túi áo còn có một mảnh bùa. Cạnh bên là hài cốt của Ðại Tá Võ Toàn, có thẻ bài và một chiếc nhẫn vàng trên lóng xương tay. Theo xác nhận của bà quả phụ Võ Toàn, hiện đang sống tại Việt Nam nói chuyện với chúng tôi qua điện thoại, đây là chiếc nhẫn đính hôn từ năm 1964, sau này tay của ông mập ra nên không thể nào cởi nhẫn ra được, do đó mà chiếc nhẫn nhẫn mới còn.
Trong ngôi mộ này người ta còn tìm thấy hài cốt của một em bé, một phụ nữ, một thiếu úy (xác nhận nhờ cấp bậc trên cổ áo), một phi công (nhận ra nhờ bộ đồ bay). Hai quân nhân này không có giầy, và hài cốt của người phi công lớn hơn bình thường. Qua cuộc điện đàm với chúng tôi sau khi có tin nấm mộ được khai quật, cựu trung tá phi công Lê Ngọc Bình, hiện cư ngụ tại La Fayette, Louisana, cho rằng đây có thể là hài cốt của cố Trung Úy Nguyễn Văn Tạng, co-pilot của ông trong chuyến bay định mệnh này, và người đàn bà và đứa trẻ là gia đình của “y tá phi hành” Nguyễn Chược trong Phi Ðoàn 257 Trực Thăng có nhiệm vụ “tản thương-tìm cứu” mà ông Lê Ngọc Bình là phi đoàn trưởng. Ông Nguyễn Chược đã gửi theo chuyến bay này người vợ và 4 đứa con nhỏ. Về những người khác đi trên chuyến bay ông không biết rõ. Sống chết bên nhau
Trong thời gian có cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh sang Hạ Lào, lúc Ðại Tá Ðiềm (Khóa 4 Thủ Ðức), chỉ huy Trung Ðoàn I BB thì Trung Tá Võ Toàn (khóa 17 VBQG Ðà Lạt) là tiểu đoàn trưởng TÐ 3/1. Năm 1973 lúc Chuẩn Tướng Ðiềm được giao trọng trách tư lệnh SÐ 1 thì Ðại Tá Võ Toàn là trung đoàn trưởng Trung Ðoàn IBB. Tháng 3 năm 1975, Sư Ðoàn 1 Bộ Binh cùng Liên Ðoàn 15 Biệt Ðộng Quân, chịu trách nhiệm bảo vệ hướng Tây và Nam tỉnh Thừa Thiên. Trong lúc hành quân, sư đoàn được lệnh rút về cửa Tư Hiền để thực hiện lệnh tái phối trí Quân Ðoàn I. Theo kế hoạch rút quân, Sư Ðoàn 1 Bộ Binh cùng các đơn vị phụ thuộc sẽ tập hợp tại cửa Tư Hiền, vượt đầm Cầu Hai, qua đèo Hải Vân rồi theo quốc lộ 1 về Ðà Nẵng. Trước sự tấn công của cộng sản và Duyên Ðoàn 13 Hải Quân chịu trách nhiệm đưa quân qua sông bị khó khăn, không làm tròn trọng trách, nên cuối cùng Sư Ðoàn 1 Bộ Binh tan rã tại đây, và chỉ khoảng vài nghìn quân nhân về được đến Ðà Nẵng.
Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm được Trung Tướng Ngô Quang Trưởng chỉ định làm Quân Trấn Trưởng Ðà Nẵng để tái lập an ninh, và Ðại Tá Võ Toàn tuy là phụ tá Quân Trấn Trưởng nhưng gần như ông đôn đốc mọi công chuyện. Ðịnh mệnh đã sắp xếp để cuối cùng hai chiến hữu của SÐ1BB, đã từng chiến đấu bên nhau cùng lên một máy bay trực thăng HU1H do Trung Tá Lê Ngọc Bình lái từ căn cứ Non Nước bay về hướng Nam. Ngày 18 tháng 4 khi CS tiến vào Ðà Nẵng. Trong cuộc phỏng vấn truyền hình của chúng tôi (và phóng viên quay phim Ðăng Minh SBTN) tại nhà riêng của Cựu Trung Tá Lê Ngọc Bình tại thành phố La Fayette vào tháng 10, 2007, ông Bình xác nhận là không biết có Ðại Tá Toàn trên máy bay hay không, vì trong lúc hỗn loạn và quá đông người.
Cuối cùng khi khai quật nấm mồ, người thấy Chuẩn Tướng Ðiềm và Ðại Tá Toàn nằm sát bên nhau.
Sau hơn 36 năm Ðại Tá Võ Toàn đã về với gia đình tại Long Thành (Biên Hòa) và Chuẩn Tướng Ðiềm có mộ phần tại Bà Rịa (Phước Tuy). Hai người đều sinh trưởng ở Huế, chiến đấu nhiều năm cho mảnh đất quê hương, nhưng sau tháng 4, 1975, gia đình của hai tử sĩ này đều bị vùi dập, kỳ thị và xua đuổi phải đi dần về phương Nam tìm đất sống và đã “nhận nơi này làm quê hương.”
Gia Đình Tướng Điềm năm 2017

Saturday, August 20, 2016

Chuẩn Tướng Trương Hữu Đức (1930-1972) Hy Sinh vì Công Vụ

 Số Quân: 50/125.014
Sanh tháng 8 năm 1930 tại Rạch Giá

1953: Theo học khóa 10 Trần Bình Trọng tại Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
1954: Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy.
1956: Vinh thăng Trung Úy
- Du học khóa 5 căn bản Thiết Giáp tại Trường Thiết Giáp Kỵ Binh Saumur ở Pháp Quốc.
- Thiếu Tá Trưởng Ban 3 Chiến Đoàn Thiết Vận Xa M113 tại Mỹ Tho do Trung Tá Lý Tòng Bá làm Chiến Đoàn Trưởng.
1964: Ngày 11 tháng 8, thăng Thiếu Tá thực thụ.

1968: Tháng 7 hướng dẫn phái đoàn Sĩ Quan QLVNCH gồm 31 khóa sinh theo học khóa 44 Tác Chiến Trong Rừng tại trường Jungle Warfare School của Quân Đội Hoàng Gia Anh Quốc tại Mã Lai Á.
1971: Trung Tá Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh ở Long Khánh. Thăng Cấp Đại Tá.
1972: Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 52 (Thiết Giáp và Biệt Động Quân)
Sáng ngày 13 tháng 4 năm 1972 hy sinh trên trực thăng đang bay điều động Lực Lượng Hổn Hợp chiến xa và Biệt Động Quân liên kết với Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù đang hành quân khai thông Quốc Lộ 13 khoảng 3 cây số về hướng Bắc Chơn Thành Bình Long. Bị trúng đạn của địch từ dưới đất bắn lên. Phi hành đoàn vô sự.
- Truy Thăng Chuẩn Tướng.
- Truy Tặng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu.
- Khóa 27 Võ Bị Đà Lạt khai giảng ngày 28-12-1970 và mãn khóa ngày 27-12-1974 được mang tên khóa Trương Hữu Đức.
1974: Ngày 11 tháng 1. Một buổi lễ truy tặng Huy Chương Ngôi Sao Bạc (SILVER STAR) của Chính Phủ Hoa Kỳ cho Cố Chuẩn Tướng Trương Hữu Đức tại tư thất cố Chuẩn Tướng.
Trương Hữu Đức (1930-1972), nguyên là một sĩ quan Kỵ binh cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Đại tá. Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân thời kỳ Quân đội Quốc gia. Ra trường, ông được chọn về đơn vị Thám thính (sau cải danh thành Thiết giáp). Sau đó tốt nghiệp trường Kỵ binh Pháp. Trong suốt thời gian tại ngũ, ông hoàn toàn phục vụ trong ngành chuyên môn của mình. Năm 1972, ông tử trận trong khi đang thi hành nhiệm vụ. Được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng.

Mục lục


Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh vào tháng 8 năm 1930 tại Rạch Giá (Kiên Giang), miền tây Nam phần trong một gia đình điền chủ lớn. Ông đã tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Cần Thơ với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Tháng 9 năm 1953, thi hành lệnh động viên ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 50/125.014. Theo học khóa 10 Trần Bình Trọng tại trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 10 nam 1953. Ngày 1 tháng 6 năm 1954 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được chọn phục vụ trong đơn vị Thám thính với chức vụ Trung đội trưởng.

  • Tốt nghiệp cùng khóa Võ bị với ông, sau này lên tướng còn có các Chuẩn tướng:

  1. Vũ Văn Giai (nguyên Tư lệnh Sư đoàn 3 bộ binh)
  2. Trần Văn Nhựt (nguyên Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh)

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Năm 1956, sau một thời gian ngắn chuyển sang phục vụ Quân lực Việt Nam Cộng hòa (đổi tên từ Quân đội Quốc gia). Ngày 1 tháng 6 ông được thăng cấp Trung úy giữ chức Chi đoàn phó. Sau đó ông được cử đi du học khóa 5 căn bản Thiết giáp tại trường Kỵ binh Saumur, Pháp. Năm 1960, ông được thăng cấp Đại úy và được cử làm Chi đoàn trưởng Chi đoàn M.24 thuộc Trung đoàn 1 Thiết giáp.
Sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (1 tháng 11 năm 1963). Ngày 3 tháng 11, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử giữ chức vụ Trưởng ban 3 trong Bộ chỉ huy Chiến đoàn Thiết vận xa M.113 ở Mỹ Tho do Trung tá Lý Tòng Bá làm Chiến đoàn trưởng.

Tháng 7 năm 1968, ông được giao nhiệm vụ hướng dẫn phái đoàn sĩ quan trong Quân lực gồm 31 khoá sinh theo học khóa "Tác chiến trong rừng" tại Mã Lai. Đầu tháng 11 cùng năm về nước ông được thăng cấp Trung tá.
Tháng 3 năm 1971, ông được cử làm Thiết đoàn trưởng Thiết đoàn 5 Kỵ binh ở Long Khánh thay thế Thiếu tá Trần Văn Nô. Ngày 1 tháng 11 cùng năm ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Mùa hè năm 1972 tại mặt trận Bình Long-An lộc ông được giữ chức vụ Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 52 (chỉ huy Lực lượng Thiết giáp và Biệt động quân).

Tử trận

Sáng ngày 13 tháng 4 năm 1972, ông tử trận trên trực thăng khi đang bay điều động lực lượng hỗn hợp gồm: Thiết giáp, Biệt động quân liên kết với Tiểu đoàn 8 Nhảy dù khai thông Quốc lộ 13 ở Chơn Thành, Bình Long. Ông bị trúng đạn của địch quân từ dưới bắn lên.
Ông được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng và truy tặng Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu. Tang lễ được cử hành trong thể với Lễ nghi Quân cách dành cho một vị tướng.
Tên ông được đặt cho khóa 27 trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (khóa Trương Hữu Đức 1970-1974).

Friday, July 15, 2016

Chuyện tình của Đô Đốc Trần Văn Chơn.(the Love Story of Admiral Tran Van Chon, by Giao Chỉ) Giao Chỉ, San Jose.

 Đề Đốc Trần Văn Chơn và các Chiến Hữu trong chuyến viếng thăm Nam California 2016 trong dip Khánh Thành Tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo tại Đại Lộ Bolsa Thành Phố Westminster
 
Cuối tuần qua, canh khuya tôi vẫn còn theo dõi các bài ca trong youtube. Dậy mà đi, dậy mà đi. Ai chiến thắng mà không từng chiến bại, ai khôn ngoan mà không dại một lần. Chả biết lời nhạc tôi nhớ có đúng không, nhưng rõ ràng là bà ca chính huấn của thế kỷ mới rất xuất sắc. Hình như các bạn trong nước hát cho chúng tôi. Chúng tôi đúng là chiến thắng nhiều phen nhưng chỉ chiến bại một lần là nước mất nhà tan. Đang hào hứng nghe dân Việt trong nước gọi nhau thức dậy tôi chợt nhận được tin trên mạng đô đốc Trần Văn Chơn tại San Jose qua đời. Bài học tam đoạn luận lúc còn trẻ thơ chợt nhớ lại. Làm người ai cũng phải chết. Niên trưởng Chơn là người. Trước sau ông cũng phải ra đi. Đành rằng ông tướng hải quân rất cao niên. Ra đi trong tuổi đại thọ còn mong gì hơn. Nhưng tình nghĩa quen biết bao lâu, trước tin tử sinh vĩnh biệt lòng thấy nao nao. Tôi bèn tìm đọc lại tiểu sử của niên trưởng. Phần cuộc đời của vị nguyên tư lệnh hải quân Việt Nam hai lần xem ra quá nhiều chi tiết lằng nhằng. Tôi bèn soạn lại cho gọn gàng như sau
Tiểu sử đô đốc Trần Văn Chơn.
Ông sinh ngày 24 tháng 9, 1920, quê ở Vũng Tầu. Tốt nghiệp và phục vụ trong ngành Hàng hải. Sau đó được chuyển sang Hải quân và đã phục vụ trong quân chủng này cho đến ngày giải ngũ (1974). Sau khi tốt nghiệp trung học chương trình Pháp với văn bằng Tú tài I ông thi vào ngành Hàng hải Pháp tại Sài Gòn. Từ năm 1941 đến năm 1949, phục vụ ở ngành này ông đã tốt nghiệp Cơ khí,Vô tuyến, Hoa tiêu và Thuyền trưởng Hàng hải Thương thuyền. Cuối năm 1951, ông qua Hải quân. Theo học khoá 1 tại trường sĩ quan Hải quân Nha Trang, ngành Chỉ huy với tổng số 9 khoá sinh. Tất cả được đưa xuống Hàng không mẫu hạm Arromanches để huấn luyện, sau đó luân chuyển qua các chiến hạm Viễn đông của Hải quân Pháp: Foudre, Lamotte Piquet v.v Năm 1952, khoá học về Nha Trang để tiếp tục thụ huấn cho đến ngày mãn khóa. Ông tốt nghiệp Thủ khoa với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường ông chỉ huy 4 Trung vận đỉnh với nhiệm vụ mở đường, rà mìn và tuần tiễu phục vụ trong Hải đoàn Xung phong. Cùng tốt nghiệp khoá 1 Hải quân với ông còn có 4 bạn cùng khóa sau này thay nhau làm tư lệnh Hải Quan VNCH. Chung Tấn Cang, Lê Quang Mỹ, Hồ Tấn Quyền và Lâm Ngươn Tánh. Năm 1953, thăng cấp Trung úy Chỉ huy phó Hải đoàn Xung phong ở Vĩnh Long. Năm 1954, ra Bắc làm Chỉ huy phó Hải đoàn Xung phong Ninh Giang. Tháng 6 cùng năm, Hải đoàn Ninh Giang di chuyển vào Nam, đặt căn cứ tại Mỹ Tho và cải danh thành Hải đoàn Mỹ Tho do Đại úy Lê Quang Mỹ làm Chỉ huy trưởng.
Về miền Nam
Năm 1955, thăng cấp Đại úy Chỉ huy trưởng Trợ chiến hạm Linh Kiếm HQ-226. Chỉ huy trưởng Lực lượng Giang đoàn thay thế HQ Thiếu tá Lê Quang Mỹ đi làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân. Năm 1956, thăng cấpThiếu tá và năm 1957, ông được bổ nhiệm Tư lệnh Hải quân thay thế Đại tá Lê Quang Mỹ. Sau 2 năm tư lệnh 1959, ông bàn giao cho Thiếu tá Hồ Tấn Quyền. Cũng năm 1959 ông thăng cấp Trung tá. Qua đầu năm 1960, ông là sĩ quan cao cấp của Quân chủng Hải quân đầu tiên được cử đi học lớp Chỉ huy tại trường Hải chiến tại Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ. Tháng 6 cùng năm trở về nước, ông được tái nhiệm chức Giám đốc Hải quân Công xưởng và qua đầu năm 1961, ông kiêm nhiệm thêm chức vụ phụ tá cho Đại tá Dương Ngọc Lắm, Tổng Giám đốc Bảo an và Dân vệ. Qua tháng 2 năm 1962, ông nhận nhiệm vụ mới với chức vụ Chỉ huy trưởng Lực lượng Tuần giang. Ngày lễ Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1966, ông được thăng cấp Đại tá và được tái nhiệm chức Tư lệnh Hải quân thay thế Trung tướng Cao Văn Viên (nguyên là Tổng tham mưu trưởng, tạm thời kiêm nhiệm chức Tư lệnh Hải quân). Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được vinh thăng Phó Đề đốc. Cũng trong năm này, Hải quân Việt Nam Cộng hòa cải tổ thêm quân số và nhận lãnh các chiến hạm do Hoa Kỳ chuyển giao. Ngày 1 tháng 11 năm 1970, ông được vinh thăng Đề đốc rồi lên phó Đô đốc.. Ngày 1 tháng 11 năm 1974, ông được giải ngũ vì đáo hạn tuổi và đã có trên 20 năm quân vụ sau khi bàn giao chức Tư lệnh Hải quân lại cho Đề đốc Lâm Ngươn Tánh
Sau 1975.
Sau ngày 30 tháng 4, dù được hải quân VNCH và hải quân Hoa Kỳ đưa đi nhưng ông là vị tướng duy nhất của Hải quân quyết định ở lại bị bắt đi tù cải tạo. Lần lượt trải qua các trại giam: Quang Trung, Yên Bái, Nam Hà cho đến ngày 14 tháng 9 năm 1987 sau năm 12 năm ông mới được trả tự do. Tháng 12 năm 1991, ông cùng gia đình xuất cảnh theo diện HO do và định cư tại San Jose, California, Hoa Kỳ.
Gia đình Phu nhân: Bà Lâm Thị Loan. Ông bà có 10 người con gồm 6 trai, 4 gái. Trưởng nam: Hải quân Đại uý Trần Minh Chánh (khoá 24 Võ bị Đà Lạt và khóa 1 sĩ quan đặc biệt Hải quân).Đại úy Chánh là hạm trưởng đưa tàu theo hạm đội ra đi, sau đó quay về với gia đình và 2 cha con đều vào tù.
Bản tin giờ chót, bà Lâm thị Loan ra đi.
Khi chúng tôi vừa soạn xong tiểu sử cuộc đời hết sức sống động của niên trưởng Trần Văn Chơn thì sáng hôm sau có tin cải chính. Bà đô đốc đã ra đi sau nhiều năm bị đau ốm tại nhà. Riêng ông đô đốc vẫn còn khỏe mạnh. Bà ra đi hưởng thọ 90 tuổi. Phần ông năm nay 96 tuổi vẫn còn hết sức sáng suốt tinh tường. Phần thể chất cũng còn rất tương đối. Chúng tôi hỏi thăm qua điện thoại, niên trường vô cùng xúc động vì người bạn đường mới bỏ đi. Ông bà đã ở với nhau suốt 71 năm với 10 người con và các cháu hiện còn đầy đủ tại 3 quốc gia. Hoa Kỳ, Canada và Úc Châu. Ngày thứ ba chúng tôi ghé lại thăm niên trưởng và lần này không nói đến chuyện cộng đồng, chiến tranh, quân ngũ. Tôi hỏi chuyện tình của vị đô đốc cao niên. Hỏi rằng ông bà gặp nhau ra sao. Chuyện yêu đương tình tứ thế nào. Thôi rồi tâm sự ông già tuôn trào như cởi được tấm lòng. Đó là thời gian của hơn 70 năm về trước. Có chàng thanh niên là sĩ quan truyền tin của hàng hải thương thuyền. Quan tầu biển mặc đồ trắng, nhận dáng ngon lành. Chàng lãnh lương gấp 3 lần thầy thông thầy phán Sài Gòn. Chàng lại mới ngoài 20 tuổi, chưa lập gia đình. Nhưng thời đó cậu Chơn Vũng Tàu cũng không phải là chàng trai xông xáo đi tìm vợ. Gặp được cô Loan là nữ sinh Sài Gòn cũng do các bà mẹ giới thiệu. Cậu Chơn kể lại rằng suốt một năm dài đi chơi với cô Loan luôn luôn có bà mẹ vợ tương lai kèm thêm bà gì đi đàng sau. Hình như mãi đến ngày cưới cô cậu mới cầm tay nhau. Đó là thời kỳ sau đệ nhị thế chiến 1945. Trước đó Sài gòn còn trải qua một thời chiến tranh ác liệt. Thương thuyền đậu ngay tại bến Sài Gòn. Nhật vừa đảo chính Pháp. Máy bay Mỹ và đồng minh đánh phá hàng ngày. Nhưng may tàu của ông không bị oanh tạc. Tiếp theo, cuộc đời của ông quan hải quân thăng tiến theo sự bành trướng của quân chủng. Ông đã từng hai lần chỉ huy hải quân công xưởng. Hai lần làm tư lệnh hải quân.Thủ khoa khóa 1 sỹ quan hải quân ngành chỉ huy. Tổng cộng toàn khóa có 9 khoá sinh mà đã có đến 5 vị thay phiên làm tư lệnh. Tôi hỏi thăm về những ngày đen tối của cuộc đời thì ông Chơn cho biết hơn 12 năm tù cộng sản ông còn bị tù VNCH. Niên trường cười hiền hậu nói rằng sau thời cách mạng mình mới đi học về là bị bắt giam trong an ninh quân đội hơn một tháng. Sao lại bị bắt. Ông nói. Bị tình nghi là phe ông Diệm.
Sau đó được thả ra. Sao lại được ra. Bị nghi là không phải phe ông Diệm. Tôi hỏi thêm, Vậy niên trưởng có thân với ông Thiệu không. Không. Ông Thiệu không nhắc nhở gì đến mình cả. Chẳng có được mời lên họp trên dinh độc lập. Sao không thân mà lại để niên trưởng làm tư lệnh. Có thể ông thấy mình vô hại. Hải quân chỉ đánh giặc. Hải quân không làm đảo chính được như không quan dọa đánh bom. Có thể hải quân chỉ giúp các ông xuống tàu chạy ra biển. Bây giờ xin hỏi chuyện bà đô đốc. Bao năm nay không thấy bà xuất hiện. Ông nói, mấy năm trước vợ chồng chúng tôi vẫn đi bộ quanh xóm. Sau này nhà tôi trong người không khỏe và đầu óc không minh mẫn nên nằm một chỗ. Tôi và các con lo cho bà.Vậy suốt 70 năm bên nhau niên trưởng thấy thế nào. Thế nào là làm sao. Anh hỏi gì lạ vậy. Chúng tôi có 10 con và bao nhiêu cháu. Vậy niên rương có buồn không. Ông niên trưởng đô đốc nhìn vào khoảng không mà không trả lời. Ông nói một mình bảy mươi mốt năm. Rồi ông quay lại nói với tôi. Anh uống nước đi. Qua mái tóc bạc của vị đó đốc cao niên tôi nhìn thấy có chàng thanh niên đồng phục trắng của sĩ quan hàng hải thương thuyền đứng bên cạnh có nữ sinh Sài Gòn, áo dài vai bồng, tóc chải lệch một bên. Đó là thời gian đệ nhị thế chiến vừa chấm dứt. Chàng và nàng làm đám cưới vừa xong. Năm đó là năm 1945. Hình như vào năm sau 1946 đứa con trai đầu tiên ra đời. Anh Trần Minh Chánh sau này là hải quân hạm trưởng lái tàu ra khơi trả con tàu cho Mỹ rồi quay trở về để cùng cha đi tù cộng sản. Bây goi anh Chánh ở Nam Ca, trong danh sách các con của cụ bà Lâm Thị Loan trong bản cáo phó đứng đầu hàng Trưởng Nam. Ông bà sống bên nhau 71 năm thì anh con trưởng cũng đã cao niên ở tuổi 70. Tôi mở lại bài ca trong Youtube. Dậy mà di, Dậy mà di. Ai chiến thắng mà không từng chiến bại. Ai khôn ngoan mà không dại một lần. Cha con ông đô đốc đã quyết định ở lại cùng đi tù cộng sản. Nhưng ngày nay bên nhau tiễn đưa bà mẹ hiền thiếu phụ Sai Gòn về nơi vĩnh cửu. Ở đời biết đâu là khôn hay dại. Hạnh phúc định nghĩa làm sao. Cả miền Nam bao phen chiến thắng nhưng chỉ một lần chiến bại. Phải chăng là mất hết chỉ còn có nhau. Tôi vẫn hỏi. Niên trưởng cao niên 96 tuổi có hạnh phúc không. Ông lại nói Chúng tôi có 71 năm lăm tuổi trẻ và 10 con. Anh chỉ hỏi vớ vẩn. Tôi bắt tay ông và nắm với cả hai bàn tay. Thương nhau tay nắm lấy bàn tay...



Monday, May 30, 2016

Đề Đốc Tư Lệnh Hải Quân V.N.C.H. TRẦN VĂN CHƠN


Họ và Tên: Trần Văn Chơn
Sinh Ngày: 24-9-1920 tại Vũng Tàu
Binh Nghiệp:
1941: Tốt nghiệp ngành Cơ Khí Hàng Hải tại Sàigòn.
1942: Tốt nghiệp ngành Vô Tuyến Hàng Hải.
1948: Tốt nghiệp bằng Sỉ Quan Hoa Tiêu Hàng Hải
1949: Tốt Nghiệp bằng Thuyền Trưởng (Trường Hàng Hải Thương Thuyền).
1951: Khóa 1 Trường Sĩ Quan Nha Trang ngành Chỉ Huy (1.1.1952 - 1.10.1952)
1952: Tốt Nghiệp Thủ Khoa cấp bậc Hải Quân Thiếu Úy, phục vụ tại Hải Đoàn Xung Phong 4 Trung Vận Đỉnh
1953: Ngày 1 tháng 10 thăng Trung Úy. Chỉ Huy Phó Hải Đoàn Xung Phong Vĩnh Long.
1954: Đầu năm. Chỉ Huy Phó Hải Đoàn Xung Phong Ninh Giang Bắc Việt
1954: Tháng 6 Hải Đoàn di chuyển vào miền Nam Mỹ Tho và trở thành Hải Đoàn Xung Phong Mỹ Tho
1955: Vinh Thăng Hải Quân Đại Úy Chỉ Huy Trưởng Trợ Chiến Hạm Linh Kiếm HQ-226. Cuối tháng 8 Chỉ Huy Trưởng Giang Lực.
1956: Vinh Thăng Hải Quân Thiếu Tá
1957: Tư Lệnh Hải Quân thay thế Hải Quân Đại Tá Lê Quang Mỹ kiêm Giám Đốc Hải Quân Công Xưởng.
1958: Bàn giao chức vụ Hải Quân Công Xưởng cho Đại Tá Nguyễn Dần.
1959: Ngày 6 tháng 8 bàn giao chức vụ Tư Lệnh Hải Quân cho Hải Quân Thiếu Tá Hồ Tấn Quyền.
1959: Ngày 26 tháng 10 Vinh Thăng Hải Quân Trung Tá Nhiệm Chức.
1959-1960:  Du học lớp Chỉ Huy tại Trường Đại Học Chiến Tranh Hải Quân (Naval War College) Newport, Rhode Island Hoa Kỳ.
1960: Giám Đốc Hải Quân Công Xưởng.
1961: Phụ Tá Tổng Giám Đốc Bảo An và Dân Vệ tiền thân của Địa Phương Quân và Nghĩa Quân.
1962: Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Tuần Giang.
1966: Ngày 1 tháng 11 Vinh Thăng Hải Quân Đại Tá Nhiệm Chức và Tư Lệnh Hải Quân
1968: Ngày 19 tháng 6 Vinh Thăng Phó Đề Đốc Nhiệm Chức.
1969: Ngày 19 tháng 6 Vinh Thăng Phó Đề Đốc Thực Thụ.
1970: Vinh Thăng Đề Đốc Nhiệm Chức.
1974: Ngày 1 tháng 11, Giải ngủ vì đáo hạn tuổi. Bàn giao chức vụ Tư Lệnh cho Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh.
1975: Vị Tướng duy nhất của Hải Quân bị tù Cộng Sản qua các trại giam: Quang Trung, Yên Bái và Nam Hà cho đến ngày 14 tháng 9 năm 1987.
1991: Định cư tại San Jose, California Hoa Kỳ.
Huy Chương:
- Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.
- Nhiều Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu.
- Chiến Thương Bội Tinh.
- 2 Legion of Merit (Degree of Commander) with Combat Distinguishing Hoa Kỳ.
- Đệ Nhị Huân Chương Đại Hàn.
- Đệ Nhị Huân Chương Thái Lan.
Đề đốc Trần Văn Chơn Tư Lệnh Hải Quân và Trung tướng Trần văn Minh Phó TL Không Quân - 1967

Tháng Năm, 2015, tôi sang California tham dự Đại Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân. Trong dịp này, tôi được gặp lại và thăm hỏi nhiều vị Cựu Chỉ Huy và rất nhiều bạn hữu của Minh. Vài người bạn hỏi tôi: “Minh chết rồi mà tại sao chị còn ‘thương’ Hải Quân quá vậy?” Tôi chỉ cười, không biết phải đáp như thế nào!

Nam California 2016
Khi cuộc vui tàn, trở về phòng tại khách sạn và suy nghĩ về câu hỏi của bạn hữu, tôi mới nhớ rằng: Tình cảm của tôi dành cho Hải Quân không phải chỉ vì Bố của các con tôi – Cố Hải Quân Trung Tá Hồ Quang Minh – là Hải Quân; mà mối tình cảm thánh thiện này được khơi động từ hơn nửa thế kỷ trước, trong vùng không gian lộng gió của bờ biển Nha Trang cùng âm vang của sóng gào hòa lẫn với những bản hùng ca do Ban Quân Nhạc Hải Quân hòa tấu và cũng từ những bộ quân phục tiểu lễ của Hải Quân.

Thật vậy, để minh chứng, tôi xin được trích một đoạn ngắn từ Tùy Bút Tưởng Như Trở Về của Điệp Mỹ Linh, được viết vào khoảng cuối thập niên 70 hay là đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, trong tập truyện Tưởng Như Trở Về: “… Cạnh những hàng thông này, dạo vừa cùng gia đình từ Dalat dời về Nha-Trang, mỗi chiều chủ nhật, tôi thích đến để nghe ban nhạc ‘Kèn Đồng’ (quân nhạc) của Hải-Quân hòa nhạc.

Thỉnh thoảng khán giả cũng ‘nổi máu nghệ sĩ’, tình nguyện hát một bản. Lúc ấy tôi chỉ hơn mười tuổi. Nhưng khi nghe một người hát ca khúc Viễn-Du tôi vẫn hiểu bản ấy không nên hát với ban nhạc ‘Kèn Đồng’ và trong khung cảnh này.

Tuy vậy, lời ca, tiếng nhạc cũng dẫn dắt hồn tôi đi thật xa. Nhìn trời lồng lộng, nhìn biển mênh mông và nhìn quân phục tiểu lễ trắng của nhạc công, tôi thích. Tôi buồn. Và tôi ước mơ…”

Sự vui thích, nỗi buồn không duyên cớ cũng như niềm ước mơ xa vời của đứa bé gái sắp bước vào tuổi “dậy thì” cứ sống mãi trong tôi. Đó là nguyên nhân xa và cũng là nguyên nhân gần làm cho ngòi bút của tôi lúc nào cũng muốn gửi đến độc giả những nét đẹp, nét lịch lãm cũng như lòng quả cảm và sự hào hùng của Hải Quân V.N.C.H.

Đối với tôi, Hải Quân V.N.C.H. – từ thủy thủ cho đến sĩ quan – đa số đều có những đặc tính rất khác lạ, rất đáng yêu và đôi khi đem nhiều đau khổ đến cho những “chiếc neo cũ kỷ” nơi “bến nhà”!

Những đặc tính khác lạ của Hải Quân là:

Khi chơi thì chơi hết mình. Điều này có lẽ ít ai, dù là trong hoặc ngoài gia đình Hải Quân, có thể phủ nhận được.

Khi yêu thì lãng mạn không ai bằng. Vâng! Mỗi khi “chàng” làm điều chi mà thấy “nàng” thoáng buồn hoặc có vẻ giận, “chàng” chỉ cần “mượn” lời ca bài Hoa Biển của Anh Thy để “ngân nga” nho nhỏ: “…Em ơi! Giận hờn, xin như hoa sóng tan trong đại dương…” hay là “chàng” hát nho nhỏ một đoạn trong tình khúc Xin Còn Gọi Tên Nhau của Trường Sa “…Lời nào gian giối cũng xin qua rồi. Để lỡ ngày sau khi ta cần nhau, còn đôi chút êm vui ngày đầu, cho mình mãi gọi thầm tên nhau…”  thì không một phụ nữ nào có thể không nguôi buồn và không hết giận!

Khi thi hành công vụ thì nghiêm chỉnh và luôn luôn nêu cao truyền thống. Điều này được tất cả quân nhân các cấp Hải Quân thể hiện một cách tuyệt vời trong suốt thời gian di tản quân bạn và đồng bào từ Vùng I và Vùng II Duyên Hải vào Saigon, tháng 3 năm 1975; và suốt cuộc hải trình từ Saigon ra Côn Sơn rồi từ Côn Sơn đến Guam vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5 năm 1975.

Khi đụng trận thì tinh thần dũng cảm của quân nhân Hải Quân cũng không thua bất cứ một binh chủng thiện chiến nào của Quân Lực V.N.C.H. Thật vậy! Nếu Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Bộ Binh, v.v… có những trận đụng độ ác liệt với Việt Cộng tại Cổ Thành Quảng Trị, Tử Thủ An Lộc, Khê Sanh, Đồng Xoài, Pleime, v.v… thì Hải Quân cũng đã góp công không nhỏ trong những hải vụ tiếp cứu và hành quân hỗn hợp với Bộ Binh và Địa Phương Quân để giữ an ninh cho Vùng III và Vùng IV Sông Ngòi suốt cuộc chiến. Đến tháng 3 và tháng 4 năm 1975, máu lửa ngập trời trên Đường Số 7, do cuộc rút quân khỏi vùng Cao Nguyên và các cuộc lui binh dọc miền Duyên Hải thì tình hình chiến sự tại vùng III và Vùng IV Sông Ngòi vẫn “yên như bàn thạch”! Không một vị Tư Lệnh Vùng III và Vùng IV Sông Ngòi nào có thể phủ nhận vai trò quan trọng của Hải Quân trong sự bình yên tại Vùng III và Vùng IV Sông Ngòi!

 Gặp gỡ chiến hữu năm xưa

Về những trận chiến dọc miền Duyên Hải, suốt cuộc chiến – ngoài chiến thắng phá hủy mật khu Vũng Rô và Duyên Đoàn 26 ở Bình Ba, dưới sự chỉ huy của Hải Quân Trung Úy Hồ Quang Minh – bắt được 2 ghe lớn của Trung Cộng giả ghe đánh cá, nhưng dưới lườn ghe toàn là vũ khí hạng nặng, Hải Quân V.N.C.H. còn có những đụng độ dữ dội với Bắc quân trong những trận sau đây:

·        Cửa Tiểu ngày 8/1/1966
·        Cửa Bồ Đề ngày 10/5/1966
·        Ba Động ngày 20/6/1966
·        Bồ Đề lần thứ hai ngày 1/1/1967
·        Mũi Ba Làng An (Batangan) ngày 14/3/1967
·        Sa Kỳ ngày 15/7/1967
·        Đức Phổ ngày 1/3/1967
·        Hòn Hèo gần Nha Trang ngày 1/3/1968
·        Cửa Việt ngày 1/3/1968
·        Bồ Đề lần thứ ba ngày 1/3/1968
·        Cửa Cung Hầu ngày 22/11/1970
·        Gành Hào ngày 12/4/1971
·        Trận đụng độ cuối cùng là ngày 24/4/1972 khi HQ 4 đánh chìm tàu địch, tại vùng biển Phú Quốc. (1)

Nếu đã đề cập đến những trận đụng độ lớn với Cộng Sản Việt Nam dọc bờ biển Nam Việt Nam mà không đề cập đến trận thư hùng giữa Hải Quân V.N.C.H. với “bậc thầy” của Việt Cộng – là Hải Quân Trung Cộng – thì bài viết này sẽ phạm một lỗi lớn !

Tôi muốn đề cập đến Trận Hải Chiến Hoàng Sa mà nhiều ngòi bút Hải Quân Việt Nam và Tây Phương đã tường trình, bình luận và phân tích.

Một trong những bài bình luận về trận hải chiến Hoàng Sa đã tạo nhiều tranh cãi và phản biện là bài của nhà báo chuyên nghiệp Bill Hayton; vì tính cách thiên vị và không được kiểm chứng tường tận của Bill Hayton.

Kính mời quý độc giả vào link dưới đây để đọc bài Điệp Mỹ Linh phản bác bài viết của nhà báo Bill Hayton về những nhận xét thiếu trung thực của Ông đối với trận Hải Chiến Hoàng Sa cũng như đối với Người Lính V.N.C.H. – nói chung – và Hải Quân V.N.C.H., nói riêng:

Trận Hải Chiến Hoàng Sa được đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải – Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại – với sự yểm trợ của Tư Lệnh Hải Quân Trần Văn Chơn.

Tôi được hân hạnh quen biết Cựu Phó Đề Đốc Thoại; vì Minh đã phục vụ tại vài đơn vị dưới sự chỉ huy của Cựu Phó Đề Đốc Thoại khi Ông còn là Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Duyên Khu II. Về sau, theo đà lớn mạnh của Hải Quân, Duyên Khu II được đổi thành Vùng II Duyên Hải.

Và tôi được hân hạnh gặp Cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn, lúc Ông còn là Hải Quân Đại Tá, vào dịp Giang Đoàn 30 Xung Phong – dưới sự chỉ huy của Hải Quân Đại Úy Hồ Quang Minh – tổ chức tiệc khao quân mừng chiến thắng Tam Giác Sắt.

Bữa tiệc khao quân được tổ chức rất trang trọng tại Câu Lạc Bộ Nổi của Hải Quân. Minh bảo tôi phải góp vui với nhân viên Giang Đoàn 30. Tôi độc tấu Accordéon bài luân vũ Le Beau Danube Bleu của John Strauss.

Sau khi đàn xong, tôi chưa kịp mang lại đôi găng tay, Minh đến, bảo tôi phải “trình diện” Tư Lệnh Trần Văn Chơn!

Thấy Minh và tôi bước đến bàn, Tư Lệnh Trần Văn Chơn đứng lên. Thái độ lịch sự của Tư Lệnh chinh phục ngay lòng quý mến của tôi. Minh đứng nghiêm, đưa tay phải lên, chào. Sau khi Minh giới thiệu tôi, tôi cúi chào Tư Lệnh với tất cả sự kính trọng. Tư Lệnh Trần Văn Chơn hỏi thăm tôi và các con tôi, rồi, thật bất ngờ, Ông xoay sang, “dũa” Minh: “Chú mày có vợ đẹp, con ngoan, vợ có tài thì chú mày lo tu tỉnh đi, nghe chưa?” Minh đứng “thẳng băng”, không dám “nhúc nhích”!

Trên đây là một kỷ niệm khó quên. Nhưng kỷ niệm khiến Minh và tôi cảm động nhất lại là, năm 1995, sau khi được Cộng Sản Việt Nam trả tự do, Cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn đến Mỹ, Hội Hải Quân tại Houston mời Ông đến viếng Houston. Ban Tổ Chức hỏi Cựu Đề Đốc Chơn, thời gian ở Houston, Ông muốn ngụ tại khách sạn hay là muốn ngụ lại nhà ai? Cựu Đề Đốc Chơn đáp, muốn ở lại nhà Hồ Quang Minh.

Thời gian Cựu Đề Đốc Chơn ngụ tại nhà tôi, mỗi ngày Hội Hải Quân nhờ người đưa đón Ông đi chơi khắp nơi trong thành phố Houston; vì Minh và tôi phải đi làm. Minh bảo tôi tổ chức một bữa tiệc vào cuối tuần để Cựu Đề Đốc Chơn mời những người bạn thâm giao của Ông; Minh và tôi cũng được dịp mời bạn hữu của chúng tôi.

Để chuẩn bị cho bữa tiệc nơi deck, ngoài sân sau, Minh lo don dẹp và tôi lo nấu ăn. Cựu Đề Đốc Chơn từ trên lầu đi xuống, thấy tôi đang xắt lạp xưởng, Ông cười, kể cho Minh và tôi nghe về những ngày Ông ở tù Cộng Sản.

Cựu Đề Đốc Chơn kể, lần đầu tiên được Phu Nhân thăm nuôi, Ông thấy Bà đem cho Ông mấy cặp lạp xưởng. Tên quản giáo lục xét giỏ thức ăn từ tay Bà rồi quát : “Đem nến làm gì mà đem lắm thế ? Ở đây có đèn chứ không hay sao mà đem nến?” Minh và tôi cười. Cựu Đề Đốc Chơn bảo: “Đừng! Đừng cười! Người ta dốt nát, nghèo khổ, không biết món ăn, nên thương hại người ta. Đừng cười!”

Từ chi tiết này, tôi nhận thấy, cựu Tư Lệnh Trần Văn Chơn là một Võ Tướng nhưng Ông lại có tâm hồn cao thượng và lòng độ lượng hơn cả vài Thiền Sư và Linh Mục!

Và lý do tôi viết về cựu Tư Lệnh Trần Văn Chơn chính là sự cao thượng và lòng bao dung của Ông.

Sau khi tìm hiểu, tôi được biết: Năm 1938, ông Trần Văn Chơn nhập học khóa Cơ Khí Hàng Hải thuộc Trường Ecole Rosel – sau đổi tên là Ecole Technique Speciale; rồi lại đổi thành Trường Kỹ Thuật. Năm 1941, Ông tốt nghiệp bằng Kỹ Thuật và tiếp tục học khóa Vô Tuyến Truyền Tin Hàng Hải. Năm 1942 Ông tốt nghiệp khóa Vô Tuyến Truyền Tin Hàng Hải  và hành nghề sĩ quan trên các thương thuyền.

Năm 1948, ông Trần Văn Chơn theo học khóa Hàng Hải, thuộc Trường Kỹ Thuật cùng với ông Nguyễn Văn Thiệu, ông Lâm Ngươn Tánh và ông Chung Tấn Cang. Sau khi tốt nghiệp bằng Thuyền Trưởng, ông Nguyễn Văn Thiệu ghi danh vào khóa đầu tiên tại Trường Võ Bị Huế – tiền thân của Trường Võ Bị Dalat – và sau này ông Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tổng Thống V.N.C.H. Ông Lâm Ngươn Tánh, ông Chung Tấn Cang và ông Trần Văn Chơn hành nghề Hàng Hải Thương Thuyền.

Sau nhiều năm phục vụ trên các thương thuyền, ông Trần Văn Chơn cùng ông Chung Tấn Cang và ông Lâm Ngươn Tánh được tuyển vào khóa I sĩ quan Hải Quân Nha Trang. Vì Trường xây cất chưa xong cho nên sinh viên khóa I – gồm 9 người – phải tạm trú và học hành trên Hàng Không Mẫu Hạm Arromanches của Hải Quân Pháp. 

 Nam California 2016

Ông Trần Văn Chơn đỗ thủ khoa khóa I sĩ quan Hải Quân Nha Trang. Ông là sĩ quan Hải Quân Việt Nam đầu tiên được du học và tốt nghiệp trường Hải Chiến Hoa Kỳ (Naval War College) Newport, Rhode Island

Trong thời gian là Tư Lệnh Hải Quân, Đề Đốc Trần Văn Chơn đã có sáng kiến và đôn đốc việc xây Tượng Đài Đức Thánh Tổ Trần Hưng Đạo tại bến Bạch Đằng, Saigon. Công trình xây dựng Tượng Thánh Tổ cũng được sự yểm trợ của Hội Thánh Trần Hưng Đạo. Tượng do điêu khắc gia Pham Thông thiết kế và thực hiện. (2)

Tháng Tư năm 1975, vì lòng hiếu đạo đối với Cha Mẹ, Cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn đã không di tản – dù Ông đã được Hoa Kỳ thông báo là sẽ cấp phương tiện hàng không để Ông cùng gia đình ra đi. Không bao giờ Ông ân hận, mà ngược lại, Ông rất vui lòng về quyết định không di tản để thể hiện lòng hiếu thảo của Ông đối với Song Thân; dù sau đó Ông bị Cộng Sản Việt Nam cầm tù gần 13 năm!

Sau khi mãn tù Cộng Sản, Ông định cư tại Mỹ, California. Để trau dồi kiến thức, Ông trở lại học đường với số tuổi ngoài 70! Ông tốt nghiệp ngành Interdisciplinary Studies tại San Jose/Evergreen Community College và chuyển qua San Jose State University, học về Political Science.

Ngoài ra, Ông cũng tham dự hầu như tất cả mọi sinh hoạt trong cộng đồng và các hội đoàn Quân, Cán, Chính thuộc Thành phố San Jose và Quận Santa Clara.

Năm 2014, Ông được bà Cindy Chavez – Supervisor of Santa Clara County – trao tặng Certificate of Recommendation.

Năm 2015, Ông nhận được Certificate of Special Congressional Recognition của U.S. House of Representatives do bà Zoe Lofgren trao tặng.

 Đề Đốc Trần Văn Chơn và Đô Đốc Elmo Zumwalt

cùng sánh vai chiến đấu trong đầu thập niên 1960

Ông là Cựu Tư Lệnh Hải Quân V.N.C.H. được Hải Quân Hoa Kỳ mời tham dự buổi lễ đặt tên cho Khu Trục Hạm tối tân USS Zumwalt, ngày 19 tháng 10 năm 2013, tại Bath Iron Work, tiểu bang Maine.

Khu trục hạm Zumwalt (DDG - 1000) do Tư Lệnh Hải Quân thứ 19 của Hải Quân Hoa Kỳ – Đô Đốc Elmo Zumwalt – thiết kế. Đô Đốc Elmo Zumwalt nguyên là cố vấn của Tư Lệnh Hải Quân Trần Văn Chơn trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. (3)

Đề Đốc Trần Văn Chơn và người bạn cùng khóa I sĩ quan Hải Quân – Cố Đô Đốc Chung Tấn Cang – là 2 vị sĩ quan được bổ nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Hải Quân hai lần. Trong thời gian tại chức, cả hai vị Tư Lệnh Hải Quân Trần Văn Chơn và Tư Lệnh Hải Quân Chung Tấn Cang, mỗi vị đều lưu dấu rất đặc biệt vào Quân Sử Hải Quân V.N.C.H. cũng như lịch sử Việt Nam cận đại.

Đó là Trận Hải Chiến Hoàng Sa, xảy ra khi Đề Đốc Trần Văn Chơn là Tư Lệnh Hải Quân; và Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Ra Khơi, 1975 do quyết định thức thời, sáng suốt cũng như sự đôn đốc của Phó Đô Đốc Tư Lệnh Hải Quân Chung Tấn Cang. (4) 

Xin trở lại với Đề Đốc Trần Văn Chơn và Trận Hải Chiến Hoàng Sa.

Trong khi những biến động đang xảy ra tại Vùng I Duyên Hải và Hoàng Sa thì Hải Quân Đại Tá Nguyễn Văn Thiện – Chỉ Huy Trưởng Hải Đội II Chuyển Vận – đang trợ giúp Hạm Trưởng Hải Vận Hạm Hậu Giang, HQ406, để xem xét, điều động việc sửa chữa hầm nước phía trước của HQ406, do giông gió lớn đẩy HQ406, làm bể lườn chiến hạm khi chiến hạm đang đỗ quân cụ tại Chutt, Nha Trang.

Đang thực hiện công tác cứu chiến hạm HQ406, Đại Tá Thiện được Hải Quân Đại Tá Lê Hữu Dõng – Tư Lệnh Phó Vùng II Duyên Hải – thông báo rằng có công điện gọi Đại Tá Thiện ra Đà Nẵng để trình diện Tư Lệnh Hải Quân Trần Văn Chơn. Nhưng, vì tìm không được phương tiện đi Đà Nẵng, Đại Tá Thiện bay về Saigon trình diện Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy – Tham Mưu Trưởng Hải Quân – rồi nhận sự vu lệnh đi Đà Nẵng. (5)

Ngày 17/1/74 Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh – Tư Lệnh Phó Hải Quân – đi Đà Nẵng, Vùng I Duyên Hải, về vấn đề Hoàng Sa.

Đề Đốc Tư Lệnh Hải Quân Trần Văn Chơn cũng chuẩn bị đi Đà Nẵng; vì tình hình quân sự tại Hoàng Sa đang sôi động! Nhưng, Ông nhận được điện thoại từ Hải Quân Đại Tá Trần Thanh Điền – tùy viên của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu – thông báo rằng Thổng Thống  muốn gặp Đề Đốc Chơn vào sáng hôm sau tại Dalat.

Đề Đốc Trần Văn Chơn dời chuyến đi Đà Nẵng lại để sáng hôm sau Ông có mặt tại Dalat, tham dự Lễ Mãn Khóa 26 Võ Bị Quốc Gia Việt Nam với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Ngày 18/1/1974 Tại Dalat, nơi Vũ Đình Trường Lê Lợi Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, trước sự chủ tọa của Tổng Thống V.N.C.H. Nguyễn Văn Thiệu và các quan khách, 175 sinh viên sĩ quan khóa 26 – khóa Nguyễn Viết Thanh – đã tuyên thệ để trở thành tân sĩ quan hiện dịch; 22 tân Thiếu Úy về phục vụ Hải Quân; 15 tân sĩ quan về Không Quân; số sĩ quan còn lại được phân phối đến các binh chủng và sư đoàn. (6)

Sau lễ mãn khóa 26 tại Trường Võ Bị, Đề Đốc Trần Văn Chơn trở về Saigon.

Sáng 19/1/74 Đề Đốc Trần Văn Chơn đi Đà Nẵng.

Trận Hải Chiến tại Hoàng Sa kéo dài – khoảng 30 phút – trong thời gian phi cơ đang đưa Đề Đốc Trần Văn Chơn từ Saigon đến Đà Nẵng!

Khi phi cơ đưa Đề Đốc Chơn và đoàn tùy tùng, gồm có Hải Quân Đại Tá Võ Sum, Hải Quân Đại Tá Nguyễn Ngọc Quỳnh, Hải Quân Thiếu Tá Văn Trung Quân – tùy viên của Đề Đốc Chơn – và Trung Sĩ Trương Sở Phước cùng vài hạ sĩ quan và binh sĩ Hải Quân đến phi trường Đà Nẵng thì Trận Hải Chiến Hoàng Sa đã kết thúc!

Đón Tư Lệnh Trần Văn Chơn tại phi trường Đà Nẵng có Đề Đốc Tánh và Phó Đề Đốc Thoại.

Sau khi đưa Đề Đốc Chơn đến Căn Cứ Hải Quân Đà Nẵng, Phó Đề Đốc Thoại thuyết trình về trận chiến và trình với Đề Đốc Chơn rằng chính Phó Đề Đốc Thoại và Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc quyết định tấn công trước để tránh thiệt hại.(7)

Đề Đốc Chơn chỉ thị Phó Đề Đốc Thoại ra lệnh cho các chiến hạm và chiến đỉnh đang hoạt động ngoài biển cố gắng tìm kiếm và cấp cứu những chiếc bè đã rời khỏi Trợ Chiến Hạm Nhựt Tảo, HQ10.

Hai mươi ba quân nhân Hải Quân Việt Nam trôi dạt trên bè được tàu dầu của hãng Shell, Hòa Lan vớt.

Ngày 20/1/1974 Khoảng 7 hoặc 8 giờ sáng, Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt, HQ16 – đã bị trúng hải pháo của Trung Cộng tại Hoàng Sa – vào vịnh Tiên Sa Đà Nẵng. Nhưng, vì độ nghiêng của chiến hạm vượt quá mứt an toàn, Hạm Trưởng Lê Văn Thự không thể vận chuyển cặp cầu được. Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải phải nhờ tàu dòng của Ty Thương Cảng Đà Nẵng, kẹp ngang hông HQ16 mà cặp cầu quân cảng Đà Nẵng. (8)

Thương binh được đưa đến quân y viện Duy Tân, Đà Nẵng để điều trị.

Đề Đốc Chơn, Đề Đốc Tánh, Phó Đề Đốc Thoại, Đại Tá Thiện, Đại Tá Quỳnh, Hải Quân Trung Tá Huỳnh Duy Thiệp – giám đốc Thương Cảng Đà Nẵng – Thiếu Tá Quân cùng nhiều sĩ quan khác lên chiến hạm Lý Thường Kiệt ngợi khen thủy thủ đoàn và đến quân y viện Duy Tân thăm hỏi và an ủi thương binh.

Ngày 21/1/1974 và 22/1/1974 Đề Đốc Trần Văn Chơn cũng vẫn cùng các sĩ quan tiếp tục thăm viếng và an ủi thương binh – cả Hải Quân, Người Nhái, Địa Phương Quân, Thủy Quân Lục Chiến, v.v…

Ngày 23/1/1974 Đại Tá Trần Thanh Điền điện thoại trình cho Đề Đốc Chơn hay rằng sẽ có buổi họp Tư Lệnh các quân binh chủng vào ngày mai, tại Phan Thiết.

Đề Đốc Tánh và Phó Đề Đốc Thoại tiễn Đề Đốc Chơn, Đại Tá Quỳnh cùng phái đoàn  đến tận cửa chiếc Caribou thuộc Phi Hành Đoàn Phi Đoàn 427. Đại Úy Nguyễn Kim là Trưởng phi cơ và Thiếu Úy Tấn là Copilot. (9)

Gần tới không phận Biên Hòa, bất ngờ Thiếu Tá Quân thấy ánh lửa bừng sáng bên cánh phải của phi cơ và nghe tiếng nổ; vì phi cơ kín gió – airtight – cho nên không thể nghe rõ được. Phi cơ rung chuyển, lắc mạnh, chao đảo vài phút rồi lấy lại thế cân bằng, bay tiếp.

Đến không phận Biên Hòa, phi công đáp xuống phi trường Biên Hòa. Sau khi phi cơ dừng tại phi đạo thì máy tắt, không di chuyển được! Phi công từ cửa trên nhìn ra, thấy máy bên phải bị vỡ tung. Phi công cho biết rất may mắn, nhờ dây cable lái không bị đứt cho nên phi cơ vẫn còn điều khiển được và đáp an toàn.

Đề Đốc Chơn và tất cả mọi người cùng chụp hình trên cánh phi cơ bị trúng đạn, để lưu niệm. 

Hình chụp trên cánh phi cơ nơi động cơ bị trúng đạn nổ tung, từ trái sang phải:

Phi hành đoàn, Đề Đốc Tư Lịnh Trần Văn Chơn (giữa), Đại Tá Quỳnh, Trung sĩ Phước.

Hàng sau cùng ở giửa: Thiếu Tá Quân.  Hai sĩ quan đội Calô là Đại Úy  Nguyễn Kim và Thiếu úy Tấn.

Hình này do Trung Sĩ Trương Sở Phước tặng Cựu Đề Đốc Tư Lệnh Trần Văn Chơn khi Ông vừa mãn tù Cộng Sản, qua Mỹ. (10)


Bài viết này chỉ với mục đích nêu lên những sự kiện có thật từ tài liệu và tư liệu của những nhân chứng hiện còn sống để làm sáng tỏ nhiều chi tiết quan trọng mà vài cuốn sách cũng như những bài viết về Trận Hải Chiến Hoàng Sa đã – hoặc cố ý hoặc vô tình – không đề cập đến.

Trong khi truy tìm tài liệu và tư liệu để viết bài này – cũng như suốt thời gian dài phỏng vấn rất nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ để thực hiện cuốn Tài Liệu Lịch Sử Hải Quân V.N.C.H. Ra Khơi, 1975 – tôi được biết rằng quân nhân các cấp thuộc quân chủng Hải Quân V.N.C.H. đều dành cho Cựu Tư Lệnh Hải Quân V.N.C.H. Trần Văn Chơn rất nhiều thiện cảm và lòng quý trọng.

ĐIỆP MỸ LINH
Chú thích :
1.- Tài liệu của cựu Hải Quân Thiếu Tá Phan Lạc Tiếp
2.- Điệp Mỹ Linh phỏng vấn điêu khắc gia Phạm Thông.
3.- Vietpress USA
4.- Kính mời quý độc giả xem tài liệu này tại link : http://www.diepmylinh.com/hqvnch-ra-khoi)
5.- Tư liệu của cựu Hải Quân Đại Tá Nguyễn Văn Thiện
6.- Tư liệu từ cựu Hải Quân Trung Úy Đào Quý Hùng, cựu Đại Úy Biệt Động Quân Nguyễn Phán và cựu Hải Quân Đại Tá Đặng Đình Hiệp.
7.- Can Trường Trong Chiến Bại của cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại.
8.- Tài liệu của ông Lê Văn Thự, cựu Hạm Trưởng HQ16.
9.- Tư liệu từ cựu Trung Tá Không Quân Cần và cựu Thiếu Tá Không Quân Đặng Văn Âu.
10.- Tư liệu của cựu Hải Quân Thiếu Tá Văn Trung Quân. 

 https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_Ch%C6%A1n
Website Diep My Linh
 http://www.diepmylinh.com/tran-van-chon
Tài Liệu
Giờ phút chót tại BTL Hải Quân

NIỀM HÃNH DIỆN CỦA QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA

Kyếu Hàng Hải
  
https://www.facebook.com/113958848708939/videos/750074025097415/