Monday, February 12, 2018

Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh (1928-2018) Cựu Tư Lệnh Hải Quân và Phụ Tá Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Tiếp Đón Đồng Bào Di Tản 1975

 


1948: Tốt nghiệp trường Hàng Hải Thương Thuyền Sài Gòn.
1952: Theo học Khóa 1 Trường Sĩ Quan Hải Quân.
Tốt nghiệp cấp bậc Hải Quân Thiếu Úy.
1953: Vinh thăng Hải Quân Trung Úy.
Hạm Trưởng đầu tiên Giang Vận Hạm HQ-534
1954: Hải Quân Đại Úy Hạm Trưởng Giang Pháo Hạm
HQ-330.
Chỉ Huy Trưởng Giang Lực Miền Đông trong những năm đầu của Đệ Nhất Cộng Hòa, tham gia các Chiến Dịch Miền Tây, châu thổ sông Cữu Long, Rừng Sát và Đồng Tháp Mười.
1955: Hạm Trưởng Trợ Chiến Hạm HQ-226
1956: Hải Quân Thiếu Tá Hạm Trưởng Hộ Tống Hạm HQ-03
Chỉ Huy Trưởng Hải Lực, trách nhiệm toàn bộ Hạm Đội Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.
1957: Tham Mưu Trưởng Hải Quân
Du hành quan sát các Tổ Chức Hành Quân Huấn Luyện và Quản Trị của Hải Quân Hoa Kỳ.
1958: Tốt nghiệp khóa Hậu Sĩ Quan tại Monterey, California Hoa Kỳ và các khóa phòng Tai Nạn, Huấn Luyện Viên Hành Quân Đổ Bộ.
1959: Chỉ Huy Trưởng Hải Trấn, trách nhiệm về các cơ sở Hải Quân trên bộ, các Quân Trường và Trung Tâm Huấn Luyện Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang.
1960: Tốt nghiệp khóa Quản Trị và Điều Hành Hải Quân Công Xưởng tại Honolulu, Hawaii Hoa Kỳ.
Hải Quân Trung Tá Giám Đốc Hải Quân Công Xưởng Sài gòn.
1965: Tốt nghiệp khóa Cao Đẳng Hải Chiến Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ.
- Tham Mưu Trưởng Hải Quân.
- Hải Quân Đại Tá, Phụ Tá Hải Quân Tham Mưu Phó Hành Quân - Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.
1967: Tháng 5, sáng lập viên và Chỉ Huy Trưởng đầu tiên Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt.
1968: 30-10 Chủ Tọa Lễ Khai giảng khóa 2 Nguyễn Trải Đại Học Chiến Tranh Chính Trị.
1970: Tư Lệnh Phó Hải Quân.
Ngày 1-11 Vinh Thăng Phó Đề Đốc nhiệm chức.
1971: Tháng 6. Chủ Tịch Ủy Ban Hải Quân Bài Trừ Ma Túy.
1973: Du học khóa Quản Trị Quốc Phòng tại Monterey, California Hoa Kỳ.
1974: Vinh thăng Đề Đốc nhiệm chức.
- Ngày 1-11 Tư Lệnh Hải Quân thay thế Đề Đốc Trần Văn Chơn.
1975: Ngày 24 tháng 3, bàn giao chức Tư Lệnh Hải Quân cho Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang. 
- Đầu tháng 4, Phụ Tá Quốc Vụ Khanh đặc trách tiếp đón đồng bào di tản từ Miền Trung.
- Ngày 29 tháng 4, lúc 6 giờ chiều di tản trên Khu Trục hạm Trần Hưng Đạo HQ-1.
- Định cư tại Federicksburg, Virginia Hoa Kỳ.
2018: 
"Cựu Tư Lệnh Hải Quân VNCH, Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh đã quá vãng ngày Chúa Nhật 02/11/2018." tại Virginia Hoa Kỳ. 



Video Phủ Quốc Kỳ VNCH





Trường Cao-Đẳng Hải-Chiến Hải-Quân Hoa-Kỳ
(United States Naval War College)
Lâm Ngươn Tánh

Lời giới thiệu: Cựu Đề-Đốc Lâm Ngươn Tánh, nguyên Tư-Lệnh Hải-Quân V.N.C.H. xuất thân khóa I Hải-Quân Nha-Trang. Ông là một trong số rất ít sĩ quan cao cấp Hải-Quân Việt-Nam còn giữ được mối liên lạc mật thiết với Trường Cao-Đẳng Hải-Chiến Hải-Quân-Hoa-Kỳ.

Bài biên soạn công phu sau đây của cựu Đề-Đốc Lâm Ngươn Tánh sẽ giúp độc giả thấu triệt được nhiều điều hữu ích về ngôi trường quân sự mà hầu hết các cấp lãnh đạo Hải-Quân V.N.C.H. đều đã theo học.

“Viribus Mare Victoria” (Chiến thắng của con người trên đại dương) là phương châm của một cơ quan huấn luyện cao cấp nhất trong Hải-Quân Hoa-Kỳ: Trường Cao-Đẳng Hải-Chiến (CĐHC) Hải-Quân Hoa-Kỳ.

Trường CĐHC tọa lạc trên bán đảo Coaster Harbor Island của thị xã Newport, nằm trong vịnh Narragansett thuộc Rhode Island, một tiểu bang nhỏ nhất của Hoa-Kỳ. Thị xã Newport, đặc biệt vào mùa Hè, là một địa danh nổi tiếng trong ngành du lịch, nhờ khí hậu tương đối mát mẻ; những bãi biển cát trắng, nước trong; và những lâu đài lộng lẫy như The Elms, The Breakers, The Marble House, Chateau-Sur-Mer, Rose Cliff, v. v… Newport cũng là nơi hội ngộ của những tay đua thuyền buồm quốc tế vào những dịp tổ chức America’s Cup.

Trường CĐHC có đầy đủ tiện nghi về huấn luyện và tiếp vận cũng như tại hầu hết các Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Hoa-Kỳ. Viện Trưởng là những sĩ quan cấp Đô-Đốc thâm niên, hầu hết sau nhiệm kỳ chỉ huy Trường CĐHC, những vị này đều về hưu.

Được thành lập vào năm 1884, Trường CĐHC thoạt tiên được tổ chức để huấn luyện sĩ quan Hải-Quân Hoa-Kỳ theo học các khóa tham mưu (staff) và chỉ huy (command) dựa trên những căn bản chiến thuật và chiến lược hải chiến để tổ chức những cuộc hành quân

Đến năm 1956, Trường CĐHC mở thêm những khóa huấn luyện cho sĩ quan Hải-Quân quốc tế đồng minh của Hoa-Kỳ. Cơ cấu Trường CĐHC được hia thành hai khối:

  1. Trường Tham-Mưu Hải-Quân (Naval Staff College)
  2. Trường Chỉ-Huy Hải-Quân (Naval Command College –  NCC)

Riêng về Trường Chỉ-Huy Hải-Quân thì có hai phần riêng biệt dành cho sĩ quan Hải-Quân Hoa-Kỳ (HQHK) thuần túy (1) và sĩ quan Hải-Quân Đồng-Minh (2).

Để có nhiều ý nghĩa liên quan mật thiết với Hải-Quân V.N.C.H., bài này được viết trên căn bản không gian và thời gian của kỷ niên 1965 và đặc biệt chú trọng nhiều hơn về Trường Chỉ-Huy Hải-Quân dành cho sĩ quan Hải-Quân đồng minh tại Trường CĐHC.

Trường CĐHC/HQHK huấn luyện những sĩ quan Hải-Quân cấp tá thâm niên, để chuẩn bị cho họ một căn bản chỉ huy dựa trên những lý thuyết chiến thuật và chiến lược quốc tế hiện đại.

Khóa học kéo dài 11 tháng, gồm những phần chính yếu như:

  • Thuyết giảng về chiến thuật tác chiến của các quân binh chủng bạn có liên hệ đến hoạt động của Hải-Quân.
  • Lập trận đồ và chỉ huy hạm đội tham chiến (War Games).
  • Đi quan sát các cơ cấu quân sự quốc phòng thuộc hệ thống phòng thủ Hoa-Kỳ.
  • Viếng những cơ sở kỹ nghệ chiến tranh trong nước và ngoài nước. (Field trips)
  • Viết một bài luận án theo các đề mục tùy ý về quân sự, kinh tế, ngoại giao, v. v…

Khóa sinh đến Trường CĐHC như một sứ giả của quốc gia mình; vì tất cả khóa sinh đều được hưởng quy chế đặc miễn chính thức dành cho một ngoại giao đoàn quốc tế hợp lệ. Ngoài quyền tự do di chuyển, khóa sinh còn được tự do phát biểu ý kiến ngay tại quân trường vào những dịp khóa sinh hội thảo những đề tài trong chương trình huấn luyện và trong những dịp thuyết trình tại các trường trung học địa phương hay tại phòng Thương Mại Newport mà khóa sinh được Lions Club hoặc Rotary Club mời như một thuyết trình viên danh dự.

Những ý kiến mà khóa sinh đã phát biểu trong những dịp hội thảo – kể cả trong luận án – sẽ không được tiết lộ hoặc phổ biến nếu không có sự chấp thuận của tác giả.

Trong nhiều cuộc hội thảo chính thức, khóa sinh thẳng thắn chỉ trích chính sách ngoại giao của Hoa-Kỳ, đường lối Hoa-Kỳ viện trợ cho các quốc gia nhược tiểu và chính sách thương mại và trao đổi với quốc tế. Đến khi đàm đạo trong những dịp “trà dư tửu hậu” giữa khóa sinh và sĩ quan cán bộ HQHK, những chỉ trích về phương diện giáo dục và xã hội của Hoa-Kỳ lại được tiếp tục. Ý niệm chung của khóa sinh là: “Chúng tôi đến đây với tư cách là đồng minh của Hoa-Kỳ để hấp thụ những kinh nghiệm quý báu của Hải-Quân Hoa-Kỳ trong những trận thế chiến đã qua; nhưng chúng tôi không hoàn toàn đồng đồng ý trên nhiều vấn đề mà quốc gia của chúng tôi có nhiều ưu điểm hơn.”

Mặc dù có nhiều dị biệt tư tưởng giữa khóa sinh đồng minh và sĩ quan huấn vụ, sau cùng tình thân hữu ngày càng nẩy nở tốt đẹp suốt khóa học. Tinh thần “Tứ hải giai huynh đệ” bao trùm không khí khóa học, làm cho khóa sinh và sĩ quan huấn vụ quân trường thông cảm và hiểu biết nhau hơn, khắng khít nhau hơn, để sau cùng tạo ra một “Tinh thần Trường Chỉ-Huy Hải-Quân Newport”. (“The Spirit of The Naval Command College).

Điểm tế nhị nhất là không hề xảy ra những xung đột hoặc đả kích công khai nào giữa các khóa sinh tụ họp từ bốn phương trời, mang nhiều màu sắc khác biệt, không cùng ngôn ngữ, tuổi tác chênh lệch và đang có những rắc rối về vấn đề chính trị quốc gia.

Thật vậy, trong khóa học năm 1964-1965 có bốn quốc gia đang trong tình trạng tranh chấp lãnh thổ với nhau. Đó là Thổ-Nhỉ-Kỳ với Hy-Lạp và Ấn-Độ với Pakistan. Tuy nhiên, trong suốt khóa học, mặc dầu sự thân tình giữa đại diện các quốc gia này không được biểu lộ một cách sâu đậm, nhưng trái lại cũng không hề xảy ra một cuộc đụng chạm nào.

Vì thời gian thụ huấn khá dài, khóa sinh thuộc các quốc gia Âu-Châu, Mỹ-Châu và Trung-Đông đem theo gia đình khi đến nhập học. Khóa sinh các nước Á-Châu và Phi-Châu, có thể vì tình trạng kinh tế và chính trị, không đem theo gia đình.

Khóa sinh đến trình diện nhập khóa và lập thủ tục tại Luce Hall. Luce Hall là bộ chỉ huy và cũng là cơ quan hành chánh của Trường CĐHC. Tại Trường CĐHC, khóa sinh được theo quy chế ngoại trú, được tự do sinh hoạt nơi nào mình thích, miễn là phải tham dự đầy đủ những giờ thuyết giảng tại Trường hoặc tháp tùng những chuyến đi quan sát xen kẻ trong chương trình huấn luyện.

Sự tiếp đón của Trường CĐHC được tổ chức rất chu đáo và có vẻ trịnh trọng ngay từ khi khóa sinh vừa đến phi trường Providence, thủ đô của Rhode Island, để đưa về tạm trú tại BOQ, chờ hoàn tất thủ tục nhập khóa. Sĩ quan thuộc Bộ-Tham-Mưu quân trường được chỉ định làm cố vấn cho mỗi khóa sinh về phương diện huấn luyện cũng như những vấn đề tổng quát khác như thuê nhà, mua xe, mua bảo hiểm, v. v…

Khóa học bắt đầu vào giữa tháng Tám.

Sinh hoạt của khóa sinh bắt đầu từ giảng đường tại Simms Hall để nghe thuyết giảng về chiến thuật và chiến lược hải chiến. Trưa, sau bữa ăn tại câu lạc bộ sĩ quan là những giờ dành cho việc khảo cứu tài liệu mượn từ thư viện Mahan Hall đem về văn phòng riêng của mỗi khóa sinh. Những đề tài thuyết giảng chiến thuật và chiến lược rất bao quát và ngoạn mục với phim ảnh do thuyết trình viên trình bày.

Trong những dịp hội thảo toàn khóa, một hội trường rộng lớn được xử dụng và trang trí như dành cho một Đại Hội Đồng quốc tế nhóm họp. Mỗi khóa sinh có một bàn riêng, được trưng bày Quốc-Kỳ và bảng tên của mình. Mọi sự sắp xếp đều theo mẫu tự, không có sự phân biệt cấp bậc hoặc quốc gia của khóa sinh. Tại Mahan Hall và Luce Hall, quốc kỳ các quốc gia đồng minh của Hoa-Kỳ được dương cao, trong số đó lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tung bay…

Sau nhiều tuần huấn luyện tại Trường, khóa sinh bắt đầu đi quan sát. Phương tiện di chuyển hầu hết là phi cơ của Hải-Quân Hoa-Kỳ. Những phi cơ này sẵn sàng tại căn cứ Nagaransett Naval Air Station trên đảo Connecticut, bên kia vịnh về hướng Tây.

Thời gian 1965, Newport Bridge dài hai miles nối liền bán đảo Newport với đảo Connecticut chưa được xây cất, khóa sinh dùng tiểu đỉnh của Naval Base để sang đảo. Đôi khi Trường lại dùng xe chuyên chở công cộng đưa khóa sinh sang phi trường, nhưng phải dùng chiếc phà Jamestown Ferry để qua đảo Connecticut.

Ngày nay Newport Bridge tối tân đã thâu ngắn thời gian di chuyển từ Newport qua đảo Connecticut, nhưng đã vô tình xóa đi hình ảnh thơ mộng của chiếc phà Jamestown Ferry với đoàn hải âu lượn quanh tìm mồi do hành khách rải xuống biển.

Những chuyến đi quan sát thường kéo dài trọn tuần lễ. Nào Bermuda thuộc Anh-Cát-Lợi nằm giữa Đại-Tây-Dương, đến Roosevelt Roads Naval Air Station ở Puerto Rico nằm trong biển Caribbean, rồi trở về Key West Naval Station và Miami thuộc Florida. Có lần sang Ottawa, thủ đô Gia-Nã-Đại rồi trở về miền Trung Bắc Hoa-Kỳ để viếng các xưởng kỹ nghệ sản xuất xe thiết giáp và quân xa đủ loại tại Detroit, Michigan. Tiếp đến là viếng Bộ-Chỉ-Huy Không-Quân Chiến-Lược (Strategic Air Command) đặt sâu trong lòng núi đá ở Nebraska. Trong chuyến đi miền Tây, đến vùng Bắc California viếng căn cứ chiến thuật Không-Quân với hệ thống tiếp vận tân tiến rồi sang thăm quốc hội California và Thống-Đốc Ronald Reagan tại Sacramento. Đi về miền Nam California thì viếng những cơ xưởng chế tạo phi cơ tác chiến ở Los Angeles và Bộ-Tư-Lệnh Hạm-Đội Thái-Bình-Dương tại San Diego. Chuyến đi kế tiếp lại sang miền Đông quan sát những cuộc biểu diễn hành quân tại các Căn-Cứ Thủy-Quân Lục-Chiến (Camp Le Jeune) và Lưc-Lượng Đặc-Biệt (Fort Bragg) ở North Caroline; viếng Bộ Tư-Lệnh Hạm-Đội Đại-Tây-Dương đặt ở Norfolk, xưởng kỹ nghệ đóng tàu tại Newport News, nơi chế tạo hàng không mẫu hạm và  tiềm thủy đỉnh nguyên tử; viếng Williamsburg, thủ đô đầu tiên của tiểu bang Virginia. Đi dần về miền Đông Bắc, viếng thủ đô Hoa-Thịnh-Đốn với Quốc-Hội và Tòa Bạch-Ốc, rồi Ngũ-Giác-Đài. Chuyến kế tiếp được viếng Nữu-Ước hoa lệ với tòa nhà Liên-Hiệp-Quốc, thị trường chứng khoáng Wall Street, tượng Nữ Thần Tự-Do trước khi trở về New London, tiểu ban Connecticut để quan sát Căn-Cứ và Trung-Tâm Huấn-Luyện Tiềm-Thủy-Đỉnh. Khóa sinh được dịp ra khơi bằng Tiềm-Thủy-Đỉnh và quan sát cuộc thực tập tác chiếc có xử dụng ngư lôi.

Tại mỗi nơi thăm viếng khóa sinh được tiếp đón nồng hậu và chu đáo. Các vị Thống Đốc, Thị Trưởng, Tư-Lệnh quân chủng hay Chỉ-Huy-Trưởng cơ quan thường có mặt để tiếp đón phái đoàn khóa sinh. Trong những buổi dạ tiệc, quà kỷ niệm, chứng chỉ Công Dân Danh Dự và chìa khóa vàng của thành phố được trao tặng cho mỗi khóa sinh.

Từ năm thành lập cho đến nay (1990), Trường Chỉ-Huy Hải-Quân đã huấn luyện được 35 khóa học liên tiếp, với 1.045 khóa sinh thuộc 70 quốc gia trên thế giới. Trong tổng số khóa sinh có 545 người đã được thăng cấp Đô-Đốc Hải-Quân hoặc Tướng Lãnh Lục-Quân và Không-Quân. Hai mươi sáu người giữ chức Tổng Bộ Trưởng trong chính phủ hoặc làm Đại-Sứ. Đặc biệt có một cựu khóa sinh đã trở thành Tổng Thống!

Lý thuyết và kinh nghiệm thâu nhận được sau những chuyến đi quan sát và tình thân hữu nẩy nở trong khối khóa sinh quốc tế là những điểm son khóa sinh mang về khi hồi hương. Những kỷ niệm vui buồn cũng giúp thêm nhiều màu sắc rực rỡ cho bức tranh kỷ niệm của Trường Cao-Đẳng Hải-Chiến Hoa-Kỳ. Bất cứ một sĩ quan nào đã tu nghiệp tại Trường Chỉ-Huy Hải-Quân đều không thể quên được phương châm đặc biệt của Trường: Populos Mare Jungit. (Con người triền miên với biển cả).
1. Gồm một số sĩ quan Thủy-Quân Lục-Chiến (U.S. Marine Corps), sĩ quan Lục-Quân, Không-Quân và công chức cáo cấp quốc phòng
2. Gồm một số sĩ quan Lục-Quân và Không-Quân của vài quốc gia đồng minh.

Danh sách sĩ-quan Hải-Quân V.N.C.H.
từng tu nghiệp tại Trường Cao-Đẳng Hải-Chiến Hoa-Kỳ
Hải-Quân Trung-Tá Trần Văn Chơn            1959-1960
Hải-Quân Trung-Tá Chung Tấn Cang         1960-1961
Hải-Quân Trung-Tá Đặng Cao Thăng         1961-1962
Hải-Quân Trung-Tá Nguyễn Đức Vân         1962-1963 
Hải-Quân Trung-Tá Trần Văn Phấn            1963-1964
Hải-Quân Trung-Tá Lâm Ngươn Tánh        1964-1965
Hải-Quân Trung-Tá Đinh Mạnh Hùng         1965-1966
Hải-Quân Trung-Tá Khương Hữu Bá         1966-1967
Hải-Quân Trung-Tá Vũ Đình Đào               1967-1968
Hải-Quân Trung-Tá Nguyễn Hữu Chí         1968-1969
Hải-Quân Trung-Tá Nguyễn Xuân Sơn      1969-1970
Hải-Quân Trung-Tá Trịnh Xuân Phong       1970-1971
Hải-Quân Đại-Tá Ngô Khắc Luân               1971-1972
Hải-Quân Đại-Tá Bùi Cửu Viên                  1972-1973
Hải-Quân Đại-Tá Phan Văn Cổn                1973-1974
Hải-Quân Đại-Tá Dư Trí Hùng                   1974-1975

LÂM NGƯƠN TÁNH

Tiểu sử
Sinh 18 tháng 10 năm 1928 (89 tuổi) Sa Đéc, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1952-1975
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Tổ quốc - Đại dương.gif Quân chủng Hải quân
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.quốc H.chương đệ IV[1]
Lâm Ngươn Tánh (1928), nguyên là một tướng Hải Quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòaĐề đốc, cấp bậc Thiếu tướng. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên của trường Sĩ quan Hải quân Việt Nam, do Chính phủ Quốc gia Việt Nam tiếp quản từ cơ sở cũ của Hải quân Pháp, thành lập tại Duyên hải miền Trung. Ông đã tuần tự giữ các chức vụ chỉ huy then chốt trong Quân chủng. Sau cùng là một Tư lệnh nhiều năng lực của Quân chủng Hải quân. Năm 1974, ông đã trực tiếp chỉ huy cuộc Hải chiến Hoàng Sa chống lại Trung Quốc trên cương vị Phó Tư lệnh Hải quân kiêm Tư lệnh chiến dịch.

Mục lục


Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh ngày 18 tháng 10 năm 1928, trong một gia đình quan chức tại Lai Vung, Sa Đéc, miền tây Nam phần, Việt Nam. Gia đình đó, có 4 người con trai. Người cha là Lâm Nguơn Thơ (Ông nội là Lâm Nguơn Xuân) . Con là: Lâm Nguơn Thành, Lâm NguơnTại, Lâm Nguơn Tâm và Lâm Nguơn Tánh.Năm 1947, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Cần Thơ với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Năm 1948, ông trúng tuyển và theo học trường Hàng hải Thương thuyền của Pháp tại Sài Gòn. Sau một năm, tốt nghiệp cấp Thuyền trưởng và phục vụ ở ngành Hàng hải cho đến ngày gia nhập quân đội.

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Đầu năm 1952, ông chính thức nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia theo hệ thống được chuyển từ ngành Hàng hải sang Quân chủng Hải quân. Theo học khóa 1 tại ở trường Sĩ quan Hải quân Quốc gia Việt Nam đạt tại Nha Trang,[2] khai giảng ngày 1 tháng 1 năm 1952. Ngày 1 tháng 10 cùng năm, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Hải quân Thiếu úy ngành chỉ huy. Giữa năm 1953, ông được thăng cấp Hải quân Trung úy và được cử làm Hạm trưởng đầu tiên Giang vận hạm HQ-534.
Cuối năm 1954, ông được thăng cấp Hải quân Đại úy, chuyển sang làm Hạm trưởng Giang pháo hạm HQ-330. Sau dó. ông được cử làm Chỉ huy trưởng Giang lực miền Đông trong thời kỳ đầu của Đệ nhất Cộng hòa, tham gia các chiến dịch miền Tây châu thổ sông Cửu Long, Rừng Sát và Đồng Tháp Mười.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Cuối tháng 10 năm 1955, chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được cử làm Hạm trưởng Trợ chiến hạm HQ-226. Giữa năm 1956, ông được thăng cấp Hải quân Thiếu tá và được chỉ định làm Hạm trưởng Hộ tống hạm Đống Đa HQ-03. Tháng 10 Cùng năm ông được giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Hải lực, trách nhiệm toàn bộ Hạm đội Hải quân Việt Nam Cộng hòa.
Ngày Quốc khánh Đệ nhất Cộng hòa 26 tháng 10 năm 1957, ông được bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng trong Bộ tư lệnh Hải quân (lần thứ nhất). thời gian này, ông được cử đi du hành quan sát các Tổ chức Hành quân, Huấn luyện và Quản trị của Hải quân Hoa Kỳ. Tháng 5 năm 1958, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Hậu Sĩ quan Hải quân tại Monterey, Tiểu bang California, Hoa Kỳ và khóa Đề phòng và Xử lý tai nạn trong lãnh vực chuyên môn, khóa Huấn luyện viên và Hành quân đổ bộ.
Đầu năm 1959, mãn khóa học về nước, ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Hải trấn, trách nhiệm về các cơ sở Hải quân trên bộ, các Quân trường và Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang.
Giữa năm 1960, ông được đi du học và tốt nghiệp khóa Quản trị và Điều hành Hải quân Công xưởng tại Honolulu, Tiểu bang Hawaii.[3] Mãn khóa về nước, ông được thăng cấp Hải quân Trung tá và được cử giữ chức vụ Giám đốc Hải quân Công xưởng tại Sài Gòn.
Đầu năm 1965, ông tiếp tục được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Cao đẳng Hải chiến (Naval War College) tại Newport, Tiểu bang Rhode Island, Hoa Kỳ. Về nước, ông được cử làm Tham mưu trưởng tại Bộ Tư lệnh Hải quân (lần thứ hai). Cùng năm, ông được thăng cấp Hải quân Đại tá, giữ chức vụ Phụ tá Hải quân cho Tham mưu phó Hành quân của Bộ Tổng tham mưu. Tháng 5 năm 1967, ông là sáng lập viên và là Chỉ huy trưởng đầu tiên của trường Đại học Chiến tranh Chính trị tại Đà Lạt.[4]
Năm 1968 và 1969, ông chủ toạ lễ khai giảng khóa Nguyễn Trãi 2 và lễ tốt nghiệp khóa Nguyễn Trãi 1 Đại học Chiến tranh Chính trị. Đến tháng 7 năm 1970, ông nhận lệnh bàn giao trường Đại học Chiến tranh Chính trị lại cho Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh.[5] Tháng 8 cùng năm, ông được điều động trở lại Quân chủng giữ chức Phó Tư lệnh Hải quân. Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cuối năm, ông được thăng Hải hàm Phó Đề đốc, cấp bậc Chuẩn tướng tại nhiệm.
Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1971, ông được đề cử làm Chủ tịch Tiểu ban "bài trừ ma tuý" trong Quân chủng Hải quân. Đầu năm 1973, ông được cử đi du học khóa Quản trị Quốc phòng tại Monterey, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.
Tháng 3 năm 1974, ông được thăng Hải hàm Đề đốc, cấp bậc Thiếu tướng tại nhiệm. Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 cùng năm, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Hải quân thay thế Đề đốc Thiếu tướng Trần Văn Chơn [6]

1975

Ngày 24 tháng 3, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tư lệnh Hải quân lại cho Phó Đô đốc Trung tướng Chung Tấn Cang (nguyên Tư lệnh Biệt khu Thủ đô). Đầu tháng 4, ông được cử giữ chức vụ Phụ tá Quốc Vụ Khanh, đặc trách tiếp đón đồng bào di cư từ miền Trung.
Chiều ngày 29 tháng 4, ông đem gia đình di tản ra khơi trên Khu trục hạm Trần Hưng Đạo HQ-1 do Hải quân Trung tá Nguyễn Địch Hùng[7] điều khiển.
Sau đó, ông cùng gia đình được sang Hoa Kỳ định cư tại Thành phố Federicburg thuộc Tiểu bang Virginia.























 Chú thích
  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tứ đẳng (ân thưởng)
  2. ^ Thời điểm này, Chính phủ Quốc gia vẫn phải nhờ sự giúp đỡ của các Sĩ quan và Hạ sĩ quan người Pháp trong việc huấn luyện khóa sinh
  3. ^ Còn gọi theo phiên âm là Hạ Uy Di, Tiểu bang Hải ngoại nằm ở bắc Thái Bình Dương và cũng là Tiểu bang cuối cùng thứ 50 của Hoa Kỳ của Hoa Kỳ
  4. ^ Thời điểm tướng Tánh làm Chỉ huy trưởng trường Đại học CTCT, các sĩ quan tham mưu trong Bộ chỉ huy còn có:
    -Đại tá Đặng Thiện Ngôn (Có tư liêu ghi là Đàng Thiện Ngôn, sinh năm 1928 tại Tây Ninh. Tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức)
    -Đại tá Đỗ Văn Sáu (Sinh năm 1928 tại Sài Gòn. Tốt nghiệp khóa 5 Võ bị Đà Lạt)
  5. ^ Sinh năm 1922 tại Hà Nam. Tốt nghiệp khóa 4 Võ bị Đà Lạt
  6. ^ Tướng Chơn giải ngũ với lý do đáo hạn tuổi và đã phục vụ quân đội trên 20 năm.
  7. ^ Sinh năm 1934 tại Hà Nội. Tốt nghiệp khóa 3 trường Võ bị Hải quân Brest, Pháp)

Saturday, February 3, 2018

Tr.Tướng Trần Ngọc Tám

Trần Ngọc Tám (1926-2011), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân Viễn Đông của Quân đội Pháp mở ra ở Đông Dương, tiếp nhận và huấn luyện thí sinh người bản xứ trở thành sĩ quan để phục vụ Quân đội thuộc địa. Thời gian tại ngũ, ngoài nhiệm vụ chỉ huy đơn vị Bộ binh, ông còn đảm nhiệm những chức vụ thuộc lĩnh vực Tham mưu và Quân huấn. Là một trong số ít sĩ quan được trọng dụng và được thăng cấp tướng ở thời kỳ Đệ Nhất Cộng hòa (Thiếu tướng năm 1958). Ông cũng từng là một nhà ngoại giao giữ vai trò đại diện cho Quốc gia ở giai đoạn Đệ Nhị Cộng hòa.
Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh ngày 12 tháng 3 năm 1926, trong một gia đình điền chủ giàu có tại Mỹ Tho, miền Tây Nam phần Việt Nam. Thiếu thời, ông học ở Mỹ Tho. Sau lên học ở Sài Gòn. Năm 1944, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).
Quân đội thuộc địa Pháp
Tháng 7 năm 1946, ông nhập ngũ vào Quân đội Pháp, mang số quân: 46/101.821. Theo học khóa 1 Nguyễn Văn Thinh tại trường Võ bị Liên quân Viễn Đông Đà Lạt, khai giảng ngày 15 tháng 7 năm 1946. Ngày 2 tháng 7 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. [2] Ra trường, ông được điều động đi phục vụ tại Trung đoàn 1 Vệ Binh Nam Việt thuộc Quân đội Liên hiệp Pháp giữ chức vụ Trung đội trưởng. Đầu năm 1949, ông được thăng cấp Trung úy và được cử làm Đại đội trưởng.
Quân đội Quốc gia Việt Nam

Năm 1952, chính thức từ Quân đội Liên hiệp Pháp chuyến sang phục vụ Quân đội Quốc gia, ông được thăng cấp Đại úy lên làm Tiểu đoàn trưởng. Đến cuối năm 1954, sau hiệp định Genève (20 tháng 7) ông được thăng cấp Thiếu tá giữ chức vụ Trưởng phòng Hành quân tại Bộ Tổng tham mưu. [3]
Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Đầu năm 1955, bàn giao chức vụ Trưởng phòng hành quân, ông được cử đi làm Chi khu trưởng quận Đức Hòa, tỉnh Long An. Giữa năm ông được thăng cấp Trung tá, được bổ nhiệm làm Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Vĩnh Long. Ngày Quốc khánh Đệ Nhất Cộng hòa 26 tháng 10 năm 1956, ông được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Đệ tam Quân khu Cao Nguyên thay thế Thiếu tướng Thái Quang Hoàng. Ngày một tháng 10 năm 1957, Đệ Tam Quân khu cải danh thành Quân đoàn II đặt Bộ Tư lệnh tại Ban mê Thuột, ông là Tư lệnh đầu tiên của Quân đoàn II tân lập.. Cuối tháng 2 năm 1958, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Đến tháng 8 cùng năm, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II lại cho Thiếu tướng Tôn Thất Đính. Sau đó được cử đi Hoa Kỳ du học khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại trường Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas. Liên tục học thêm 2 khóa nữa là khóa Dân sự vụ tại Fort Gordon, Tiểu bang Georgia và khóa Vũ khí Cận đại tại Fort Bliss, Tiểu bang Texas. Giữa năm 1960, mãn khóa về nước, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh Đệ Tam Quân khu đặt tại Kontum.

tam_westmoreland
Ngày 13 tháng 4 năm 1961, Đệ Tam Quân khu giải tán để sát nhập vào Quân đoàn II, chuyển về miền Đông Nam phần, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh thay thế Đại tá Nguyễn Văn Chuân được cử đi làm Chỉ huy trưởng trường Võ khoa Thủ Đức. Trung tuần tháng 10 cùng năm, ông nhận lệnh bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 lại cho Đại tá Nguyễn Đức Thắng. [4]
Sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963. Ngày 3 tháng 11, ông được cử làm Chỉ huy trưởng trường Võ khoa Thủ Đức thay thế Đại tá Phan Đình Thứ. Ngày 27 tháng 11, ông tổ chức lễ mãn khóa 15 Cách mạng sĩ quan trừ bị. [5]
Sau cuộc Chỉnh lý nội bộ ngày 30 tháng 1 năm 1964 của tướng Nguyễn Khánh. Tháng 3, ông tổ chức lễ mãn khóa 16 Võ Tánh sĩ quan trừ bị. [6] Đầu tháng 4, ông bàn giao chức Chỉ huy trưởng trường Võ khoa Thủ Đức lại cho Đại tá Bùi Hữu Nhơn, để đi làm Tư lệnh Quân đoàn III & Vùng 3 chiến thuật thay thế Thiếu tướng Lâm Văn Phát. [7] Ngay sau khi nhận chức Tư lệnh Quân đoàn III ông được thăng cấp Trung tướng. Đầu tháng 10 cùng năm, bàn giao Quân đoàn III lại cho Thiếu tướng Cao Văn Viên. [8] Giữa tháng 10, ông được chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Tư lệnh Địa phương quân & Nghĩa quân.
Tháng 1 năm 1965, ông rời khỏi chức vụ Tư lệnh Địa phương quân và Nghĩa quân, đồng thời Bộ Tư lệnh đổi thành Bộ Chỉ huy, thay ông làm Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Địa phương quân và Nghĩa quân là Đại tá Trương Văn Xương. [9] Sau đó ông được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Điều hành Quốc tế Quân viện. Tháng 7 năm 1972, ông được cử đi làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Thủ đô Bangkok, Thái Lan. Tháng 3 năm 1974, ông được triệu hồi về nước và được giải ngũ với lý do phục vụ quân đội trên 20 năm.
1975

Ngày 30 tháng 4, ông cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó sang định cư ở Alamada, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.
Ngày 4 tháng 8 năm 2011, ông từ trần tại nơi đinh cư. Hưởng thọ 85 tuổi.

Đại Tá Nguyễn Văn Kinh


Đại Tá Nguyễn Văn Kinh
Lực Lượng Quân Cảnh QLVNCH
Binh chủng Quân cảnh VNCH là lực lượng giám sát quân phong quân kỷ của Quân đội VNCH. Ngoài ra, cùng với lực lượng Cảnh sát Quốc gia, Quân cảnh còn có nhiệm vụ bảo vệ trật tự an ninh ở hậu phương. Cạnh đó, lực lượng Quân cảnh còn phải phụ trách việc giam giữ tù binh Cộng sản tại 5 trại giam toàn quốc. Năm 1955, ngành Quân cảnh của Quân đội Quốc gia Việt Nam ra đời như là một phần của Hiến binh Pháp. Đến năm 1961, Quân cảnh trở thành một cơ cấu riêng biệt trong Quân đội VNCH. Để phát triển theo nhu cầu đòi hỏi, vào năm 1966 ngành Quân cảnh được cải tổ toàn diện. Mỗi sư đoàn bộ binh hay tổng trừ bị đều có một đại đội Quân cảnh cơ hữu trực thuộc. Trên đà phát triển này, một số đơn vị Quân cảnh Tư pháp được thành lập để giúp cho ngành Tư pháp điều tra các tội phạm trong lãnh vực dân sự lẫn quân sự. Để đào tạo nhân sự, ngành Quân cảnh có một trường huấn luyện tại Vũng Tàu nhằm cung cấp kiến thức chuyên môn cơ bản.
Theo hệ thống tổ chức, Bộ Chỉ huy Quân cảnh trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Mỗi quân đoàn/quân khu có một tiểu đoàn Quân cảnh mang cùng số thứ tự trực thuộc, riêng Biệt khu Thủ đô có Tiểu đoàn 6 Quân cảnh. Tiểu đoàn 5 Quân cảnh là đơn vị tổng trừ bị tiếp ứng cho toàn quốc. Các quân binh chủng lớn, như Hải quân, Không quân, Nhảy dù, TQLC và các trường đào tạo, huấn luyện (hạ) sĩ quan cũng có đơn vị Quân cảnh riêng.
Đơn vị trực thuộc Chỉ huy DD 24 QC/TP 1963 Thiếu tá Nguyễn Ngọc Thiệt DD 34 QC/TP 1965 Đại tá Nguyễn Hiếu Trung TD 1 QC 1972 Thiếu tướng Nguyễn Chấn Á TD 2 QC 1973 Đạ.;i tá Nguyễn Hữu Phước TD 3 QC 1975 Đại tá Nguyễn Văn Kinh TD 4 QC TD 5 QC TD 6 QC 

Monday, January 15, 2018

Kỷ Niệm Tướng Phạm Ngọc Sang - Cựu Đại Tá Nguyễn Hồng Tuyền

Bốn mươi năm sau...
Từ năm 1957, ngày chúng tôi chở Tổng thổng Ngô Đình Diệm cùng phái đoàn đi kinh lý Cam Ranh, cộng thêm hai mươi năm sau ngày 30/4/1975 khi miền Nam tan đàn rã nghé, chúng tôi gặp lại ông cựu Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang sau mười bảy năm tù cải tạo nay được đoàn tụ với vợ con ở Westminster miền Nam Cali, mới hiểu rõ lý do vì sao ông tỏ ra tư lự trong buổi thuyết trình, khi nhận lệnh bay chở Tổng thống trên chiếc L19 đi viếng thị xã Cam Ranh.
Trước ngày Tổng thống ra Nha Trang, chúng tôi họp với Thiếu tá Oánh, ông nói: "Không có ai đủ tài năng, trách nhiệm và kinh nghiệm lái cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngoài Thiếu tá Phạm Ngọc Sang." Chúng tôi cũng có gặp lại cựu Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan và cả Nguyễn Phúc Tửng (Le Chinui) và Ôn Văn Tài trong buổi cơm thân mật họp mặt ở nhà Vann Ba (Lèo) ở Martinez, CA.
Trong một chuyến họp mặt Bô Lão Nam Cali chúng tôi, Tuyền và Tài ghé thăm Chuẩn tướng Sang tại cư xá mới hiểu rõ tâm sự của ông ngày đưa Tổng thống và phái đoàn viếng thăm Cam Ranh. Ông có hai câu chuyện muốn hỏi cùng Tài và tôi:
"Thứ nhứt," Ông vừa nói vừa cầm cái chụp dưỡng khí vào mồm để thở trông như thể ông sắp lên phản lực cất cánh bay lên không gian. Có lẽ ngày xưa ông hút thuốc quá nhiều nên ngày nay hai lá phổi không còn sức giãn hồi nên phải dùng Oxy để thở. Sau khi hít một hơi oxy, ông tỉnh táo hơn, tuy nở một nụ cười nhưng mặt vẫn còn hơi cay cú và hỏi: "Ngày thuyết trình ai đã chỉ định tôi bay L19 cho Tổng thống vậy?"
Ôn Văn Tài nhìn qua tôi như thầm bảo mầy trả lời đi Tuyền, vì trong buổi họp để giao trách nhiệm cho các huấn luyện viên bay chở VIP chỉ có Thiếu tá Oánh, Trung úy Thịnh và tôi. Tôi trình bày cùng Chuẩn tuớng như sau: "Câu chuyện phân minh chia ai bay với ai hôm đó Thiếu tá Oánh có hỏi ý kiến Quyền Tư lệnh KQ Trung tá Nguyễn Văn Hổ và Thiếu tá Huỳnh Hữu Hiền, Tham mưu trưởng cùng cả Khối hành quân và có ý kiến chung là không ai có đủ khả năng bay bổng ngoài Ông ra. Cho nên ông được ưu tiên bay cho Tổng thống mà thôi."
Chuẩn tướng Sang bèn cười vui ra mặt và cho chúng tôi biết: "Tài Tuyền biết không, chúng nó muốn chơi Moi (*) đó, vì lúc đó ở phi đoàn chuyên chở VIP Moi chỉ chuyên trị C47 Dakota và chiếc phi cơ riêng Avro Commander của Tổng thống Ngô Đình Diệm mà thôi. Moi đâu có bay L19 nhiều đâu. Lúc đó, Moi tin tưởng các anh em ngoài nầy bay quá nhiều L19 rồi, không ngờ trong buổi thuyết trình Moi dự để xem ai lái cho Tổng Thống để Moi dặn dò vài câu. Không ngờ có tên Moi đầu tiên bay cho Tổng thống. Lúc đó trong lòng Moi muốn từ chối, nhưng vì thể diện, còn mặt mũi nào mà dám nói không bay cho Tổng thống!"
Ông nói tiếp: "Các Toi (*) biết không, Moi chưa đáp sân bay Hàng Không Mẫu Hạm Cam Ranh (**) lần nào, vì có lần chở Thiếu tướng Lê Văn Tỵ ra thăm Cam Ranh bằng Marcel D’Assualt 315, ông thấy sân bay Cam Ranh chỉ có chừng ba trăm thước mà bị ngập dưới nước hết một trăm trước rồi ông bảo trở về ngay. Thành ra hôm đó Moi mới nhờ Tuyền Tài đáp trước để Moi liệu sức mà đáp. Moi theo dõi rất kỹ khi thấy hai anh em đáp xong cũng an toàn, Moi nhào xuống đáp ngay và cũng nhờ Tuyền đã bảo Moi thả sáu mươi độ cánh cản nên đáp êm rơ làm vui lòng Tổng thống mà riêng với Moi thì... thót dế!"
Tôi vội trả lời, "Thấy Chuẩn tướng đáp quá đẹp và an toàn chúng tôi hoan hô hết cỡ. Lúc đó Trung úy Nguyễn Ngọc Loan đáp sau ông. Khi chúng tôi ngồi chung xe Jeep đi ăn cơm trưa, Loan mới có lời khen ngợi; "Dish Cụ", tao chỉ nghe Sang nó bay giỏi, hôm nay tao mới thấy nó bay L9 đâu chỉ có vài giờ mà đáp sân Hàng Không Mẫu Hạm Cam Ranh quá đẹp, nó giỏi thật! Ông bay sau nó mà lòng hồi hộp nên tim đánh thùng thùng hơn mấy thằng Maroc ban nhạc Tây đi diễn binh ngày 14 Juillet và dưới "tu..keo" (nói lái) hết chỉ còn tí tẹo. Nó mà rủi ro có bề gì Tổng thống đi đoong, cái thằng Oánh phải đứng mũi chịu sào mà chúng mình cũng bị vạ lây. Nếu còn thương tình mấy thằng nhóc phi công đầu xanh... cả triệu tội nầy, thì cũng cho cả lũ đi làm lao công chiến trường suốt đời, khiêng vác đạn dược cho xong. Còn nếu bằng không thì alê húp đi vào Chí Hoà ăn cơm tù cho mãn đời phi công các con ơi! "
Sau khi nói rồi Loan cười khè khè... rất có duyên. Sau những lời trình bài chân thành của tôi, thấy gương mặt ông vui tươi trở lại.
"Còn việc thứ hai, Moi muốn lấy lại lời nói lúc Tuyền Tài đem T6 G màu vàng về huấn luyện lại cho các anh em trong phi đoàn ELA có Moi bay nữa chớ! Sợ hôm nào chúng nó muốn Tổng thống bay thử trên T6 G thì Moi cũng phải dang lưng ra chiụ trận có phải không các Toi. Đó là lời nói mà Moi vẫn còn nhớ tới hôm nay. Có lần Moi hỏi: Các Toi có hút thuốc không? Dạ Thưa không. Các Toi không gan lỳ gì hết.. Hãy nhìn Moi hút thuốc đây nè, có chết thằng Tây đen Tây trắng nào đâu? Ông đưa hai ngón tay vàng khè đang cập một điếu thuốc còn phân nửa. Chỉ một cây diêm quẹt, từ sáng bước lên xe Jeep đi làm cho tới chiều về tới nhà mới dập tắt điếu thuốc trên môi. Thành ra hôm nay Moi mới ra thân thể nầy. Xin các Toi đừng hút thuốt như Moi ngày xưa. "
"Thưa Chuẩn tướng chúng tôi xin vâng lời." Chúng tôi xin kiếu từ ra về để ông còn nghỉ ngơi. Ông đưa chúng tôi ra cửa cư xá. Chúng tôi đứng chào Chuẩn tướng theo lễ nghi quân cách. Ông đúng là một ông Tướng KQ anh hùng chiến trường chiến đấu tới viên đạn cuối cùng, bị giặc cộng bắt bỏ tù 17 năm.
Đâu chừng mấy tháng sau Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang rơi vào Coma, Phu nhân và các con của ông đã nuôi chồng và cha trên ba năm trường, thật là một người vợ tuyệt vời và đàn con can đảm và hiếu thảo. Chúng tôi xin hoan hô Bà Phạm Ngọc Sang cùng các con cháu.
Khi hay tin chẳng lành, phái đoàn chúng tôi từ Bắc kéo xuống Nam Cali thăm Ông lần cuối. Khi gặp Bà Sang có nói với tôi, như thể Ông còn nuối điều gì mà chúng tôi không được biết. Khi đó có Đại tá Phạm Hữa Phương (lúc còn sanh tiền) và Trung tá Nguyễn Văn Hai (Đen) có bảo tôi vào thăm: "Anh Năm nên thông báo Chuẩn tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 6 biết là có cả Căn Cứ 60 Chiến thuật KQ Phù Cát về trình diện Chuẩn tướng đây."
Tôi nắm tay Ông làm y lời các anh em cố vấn: "Nếu Chuẩn tướng còn nuối với anh em Phù Cát xin Chuẩn tướng bấm tay tôi cho biết là trả lời hiểu." Tay ông nhè nhẹ bấm tay tôi trả lời và miệng mấp máy mỉm cười. Lúc đó chúng tôi, một đám đứng bên ông không cầm được nước mắt khi nhìn ông mỉm cười. Chừng một giờ sau mặt ông tươi rói và dần dần đi nhẹ nhàng vào cõi hư vô...
Chúng tôi viết những lời nầy với dòng lệ ứa trào quanh mi để tưởng nhớ đến người Anh Cả Sư Đoàn 6 KQ, một Tướng chiến trường anh dũng, xứng đáng cùng Trung Tướng Vĩnh Nghi đánh một trận cuối cùng với hai sư đoàn việt cộng ở Phan Rang.
Gởi lời thăm Chị Sang và các cháu an vui. Chúng tôi nguyện cầu hương linh Chuẩn tướng sớm về cùng Đức Phật A Di Đà.

Nguyễn Hồng Tuyền

Ghi chú: (*) Moi, Toi là tiếng Pháp. Tôi, Anh hoặc Tao, Mày
(**) Hàng Không Mẫu Hạm, chỉ sân bay quá ngắn.

Thursday, June 22, 2017

Chuẩn Tướng Võ Dinh Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Không Quân (1929-2017)

SQ: 49/600.095
Sanh ngày 28 tháng 6 năm 1929 tại Thừa Thiên
1950: SVSQ Khóa 3 Trần Hưng Đạo, Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.
1951: Tuyễn chọn đơn vị Không Quân khi tốt nghiệp.
1952: Khóa 1 Hoa tiêu Quan Sát TTHL/KQ Nha Trang.
1953: 1-7 Đại Úy Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 2 Quan sát và trợ chiến tại Nha Trang.
1955: Theo học khóa Tham Mưu tại trường tham mưu Paris, Pháp
- Khóa bổ túc Hoa tiêu căn cứ KQ Marrakech, Maroc.
- 7-7 Thiếu tá Chỉ Huy Trưởng căn cứ Không Quân Chiến thuật Số 1 Nha Trang.
1956: Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng căn cứ trợ lực Không Quân số 2 Biên Hòa.
1957: Tốt nghiệp khóa Thực Tập Chỉ Huy tại Clarkfield căn cứ Không Quân Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân.
1-11 Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng căn cứ trợ lực Không Quân số 4 Đà Nẵng.
1958: Tốt nghiệp khóa Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp Fort Leavenworth, Kansas Hoa Kỳ.
1959: Trung Tá Phụ tá Thanh Tra Bộ Tư Lệnh Không Quân.
- Tốt Nghiệp khóa Chiến Tranh Chính Trị cao cấp Sàigon.
1960: Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị Bộ Tư Lệnh KQ.
- Tốt nghiệp khóa Cao Đẳng Quốc Phòng Monterey, California.
1961: Tham Mưu Phó Nhân viên tại Bộ Tư Lệnh Không Quân.
1967: Đại Tá Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Không Quân.
1972: 1-11 Vinh thăng Chuẩn Tướng nhiệm chức.
1974: 1-3 Vinh thăng Chuẩn Tướng thực thụ.
1975: Định cư tại Corona California


VÕ DINH
Tiểu sử
Sinh 28 tháng 6 năm 1929 (88 tuổi]]
Thừa Thiên, Việt Nam
Mất 20 tháng 6 năm 2017
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1950-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Fatherland - Space.png Không quân
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Võ Dinh (1929 - 2017), nguyên là một tướng lĩnh Không Quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân do Chính phủ Quốc gia Việt Nam được Quân đội Pháp hỗ trợ mở ra ở nam Cao nguyên Trung phần Việt Nam trên cơ sở cũ của trường Võ bị Liên quân Viễn Đông của Quân đội thuộc địa Pháp. Sau khi tốt nghiệp, ông trúng tuyển vào Quân chủng Không quân và đã phục vụ ở đơn vị này cho đến ngày cuối tháng 4 năm 1975.

Mục lục


Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh ngày 28 tháng 6 năm 1929 tại Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam, trong một gia đình thuộc một gia tộc khoa cử đã có mấy đời làm quan dưới triều Nhà Nguyễn. Ông học phổ thông tại Huế. Năm 1949, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại trường Quốc học Huế với văn băng Tú tài toàn phần (Part II).

Quân đội Liên hiệp Pháp

Cuối tháng 9 năm 1950, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 49/600.095. Theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1950. Ngày 25 tháng 6 năm 1951 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Sau khi ra trường, ông được tuyển chọn vào Quân chủng Không quân, theo học khóa 1 Hoa tiêu Quan sát tại Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang, khai giảng ngày 30 tháng 3 năm 1952.[1]

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Đầu tháng 12 năm 1952, mãn khóa học Không quân, ra trường ông chuyển sang Phục vụ Quân đội Quốc gia, về phục vụ tại Ban Không quân trong Bộ Tổng tham mưu. Cuối tháng, ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Đầu tháng 7 năm 1953, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm, Sau đó ông chuyển ra Duyên hải miền Trung, được cử làm Chỉ huy trưởng Phi đoàn 2 Quan sát và Trợ chiến tại Nha Trang. Đầu năm 1954, ông được lệnh bàn giao Phi đoàn 2 lại cho Trung úy Nguyễn Văn Lượng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Đầu năm 1955, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Tham mưu tại Trường Tham mưu Paris, Pháp. Sau đó theo học khóa Bổ túc Hoa tiêu tại Căn cứ Huấn luyện Không quân Marrakech, Maroc. Tháng 7 cùng năm, mãn khóa về nước chuyển phục vụ cơ cấu mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá và giữ chức vụ Chỉ huy trưởng căn cứ Không quân Chiến thuật số 1 ở Nha Trang. Đầu năm 1956, ông chuyến về làm Chỉ huy trưởng căn cứ Trợ lực Không quân số 2 ở Biên Hòa do Không quân Pháp chuyển giao. Giữa năm 1957, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Thực tập Chỉ huy tại Clarkfield căn cứ Không quân Hoa Kỳ ở Phi Lật Tân. Tháng 11 cùng năm, ông được cử làm Chỉ huy trưởng căn cứ Trợ lực Không quân số 4 ở Đà Nẵng do Không quân Pháp chuyển giao.
Giữa năm 1958, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại trường Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Đầu năm 1959, ông được thăng cấp Trung tá giữ chức vụ Phụ tá Thanh tra tại Bộ Tư lệnh Không quân. Cùng năm ông được cử đi học và tốt nghiệp khóa Chiến tranh Chính trị cao cấp do Nha Tâm lý chiến tổ chức tại Sài Gòn. Đầu năm 1960, ông được chỉ định làm Tham mưu phó Chiến tranh Chính trị tại Bộ Tư lệnh Không quân. Cuối năm, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Cao đẳng Quốc phòng tại Monterey, Tiểu bang California, Hoa Kỳ. Tháng 2 năm 1961 về nước, ông giữ chức vụ Tham mưu phó Nhân viên tại Bộ Tư lệnh Không quân.
Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1967, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm, Sau đó giữ chức Tham mưu trưởng tại Bộ Tư lệnh Không quân thay thế Đại tá Võ Xuân Lành lên làm Tư lệnh phó Quân chủng Không quân.
Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1972, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm và ở chức vụ Tham mưu trưởng Không quân cho tới cuối tháng 4 năm 1975.

1975

Ngày 30 tháng 4, ông di tản ra khỏi Việt Nam. Sau đó sang định cư tại Corona, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Gia tộc và Gia đình

  • Ông nội: Cụ cố Võ Liêm (nguyên Thượng thư Bộ Lễ dưới 2 triều Vua Khải Định và Bảo Đại)
  • Bá phụ: Cụ Võ Chuẩn (nguyên giữ chức Quản đạo Kontum và Tổng đốc Quảng Nam dưới triều Vua Bảo Đại)
  • Thân phụ: Cụ Võ Trị (nguyên là một nhà Nho học uyên thâm)
  • Bào đệ: Ông Võ Quế (nguyên Đại tá Không đoàn trưởng Không đoàn Yểm cứ thuộc Sư đoàn 6 Không quân Việt Nam Cộng hòa)
  • Tướng Dinh là em thúc bá với ông Võ Sum (nguyên Đại tá Hải quân Việt Nam Cộng hòa) và nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh (Võ Thị Hoài Trinh). Hai vị này là con của cụ Võ Chuẩn.

On Saturday, June 24, 2017 9:24 AM, NHAN CAO wrote:
KÍNH ĐIẾU CHUẨN TƯỚNG VÕ DINH
KHÔNG LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ.

Nếu quả thật niên trưởng đã bay cao
Ngàn bóng hạc soải cánh không theo kịp
Như ngày xưa Tướng ngồi xem mây tím
Đàn chim về, khói lửa bỏ sau lưng

Xé không gian, bom nổ vỡ đêm sương
Trăm oanh tạc thay phiên cầy đất địch
Nón phi công đã ghi bao chiến tích
Vẫn anh hùng làm chủ cả không gian

Thế mà nay niên trưởng bỗng đăng vân
Khi phi vụ non sông chưa dứt điểm
Huynh đệ chi binh khắp phương trời quý mến
Kính dâng người âm hưởng sa trường xưa

Nén hương buồn thắp sáng chuyến bay trưa
Mỗi chiến hữu một đường mây cầu nguyện
Bái tiên sinh phiêu diêu miền diễm tuyệt
Vũ trụ mời Thiếu Tướng tới vô cùng ...

CAO MỴ NHÂN